Thứ Tư, 20 tháng 11, 2013

Người thầy đầu tiên

Người thầy đầu tiên, dạy tôi biết yêu thương, tin yêu, nỗ lực hết mình và giàu lòng vị tha trong cuộc sống, chính là cha tôi.

Hải Yến
Tôi đang đứng ở ban công, ngắm nhìn phố phường Hà Nội, có sự khác biệt rõ ràng với những ngày trước, bởi các hàng hoa nhộn nhịp đón chào ngày lễ 20/11.
Người thầy bạn nhớ nhất trong cuộc đời là ai? Có bao giờ bạn đặt câu hỏi thế chưa? Tôi nhắm mắt lại, tự ra lệnh cho bản thân mình: "Nào, trả lời đi, ai là người thầy đầu tiên, ai là người thầy đặc biệt, và bài học nào nhớ mãi không quên?".
Như một thước phim được tua chậm lại, từng hình ảnh thầy, cô hiện ra trước mắt, từng hình ảnh bạn bè, những người thân, quen, xa lạ... lần lượt hiện ra. À, hóa ra ai cũng là người thầy của tôi. Bởi bất kỳ ai đến trong cuộc đời tôi, đều dạy cho tôi hiểu, biết, cảm nhận thêm về một điều gì đó trong cuộc sống. Tôi vẫn nhắm mắt, nhưng trên gương mặt có một nụ cười mãn nguyện. Lúc đó tôi thầm cảm ơn, vì tôi đã có mặt trên cõi đời này.
Rồi bỗng nhiên, gương mặt của một người đàn ông có nụ cười thật hiền hiện ra, tôi cố gắng nhìn cho thật rõ, người đàn ông với chiếc áo sơ mi sờn vai, chiếc quần kaki màu nâu bạc phếch, khi người đàn ông đó tiến lại gần, và nhìn vào tôi, tôi giật mình gọi: "Cha!". 
Ngay khi tôi còn là một con bé 5 tuổi, tôi nhớ mỗi lần cha đi công tác về thường đặt cái cặp cũ kỹ lên mặt bàn kính, và ôm chầm lấy tôi rồi nói: “Con của bố ở nhà có ngoan không?”. Tôi khe khẽ gật đầu. Rồi ôm chặt lấy cổ cha. Cha bế tôi lên, xoa xoa mặt tôi, bàn tay thô ráp vì lao động ấy, vuốt má, mắt, và mái tóc của tôi, kiệu tôi lên vai, và đi khắp nhà, tiếng cười vang lên thật ấm áp. Lúc đó tôi cảm nhận được rõ ràng tình yêu thương. Vâng, bài học đầu tiên tôi đã học được chính là yêu thương.
chavacon-3019-1384763082.jpg
 
Một tháng cha về chỉ một lần, nhưng ngay khi tôi học cấp 1, mỗi lần về cha luôn tranh thủ cho tôi ra sông tập bơi. Cha nói: “Cha là thủy thủ, lênh đênh ngoài biển, mới biết nước hiểm nguy dường nào!” Cha dạy tôi cách khua tay, cách đạp chân, cách thở, tập trên cạn trước, rồi cha cho tôi xuống nước. Tay cha đỡ người tôi và nói: "Nào, con hãy bơi đi, có cha đây rồi mà". Tôi sợ nước lắm, thế mà nhìn vào mắt cha, nghe cha nói, tôi tin rằng cha sẽ ở bên cạnh tôi bất cứ khi nào tôi cần. Và tôi xuống nước, tôi bơi, tất nhiên là tôi đã chìm nghỉm mấy lần, cũng uống kha khá nước vì sặc, nhưng giờ tôi bơi khá tốt. Bài học thứ hai cha dạy tôi không phải là biết bơi, mà chính là có niềm tin.
Ngày ấy nhà tôi nghèo lắm, cha đi công tác xa, có được chiếc xe SimSon đã là oai lắm rồi. Một lần cha về và nói, sẽ chở tôi lên thủ đô bằng chiếc xe này. Khỏi phải nói, tôi thích thú đến mức cả đêm không ngủ được. Sáng sớm, mẹ mặc cho tôi bộ váy đẹp nhất, mà mẹ cắt từ chiếc áo hoa của mẹ, đôi dép tổ ong cũng được mẹ đánh trắng muốt, mẹ dặn dò hai cha con vài câu rồi mắt ngân ngấn giọt nước của niềm vui (chắc lây từ tôi sang).
Trên đường đi, cha cho tôi vào quán nước bên lề đường. Bạn biết không? Cha tôi chỉ uống một ly chè, còn tôi thì xin cốc nước sôi để nguội. Vấn đề chính là ở chỗ cô con gái chủ nhà đang ăn... xoài. Mùi xoài chín thơm nức mũi, và thực sự tôi chưa từng nhìn thấy quả xoài nào lại thơm, ngon, và vàng óng ả như thế. Tôi thèm! Cha nhìn tôi, rồi hỏi hàng hoa quả bao nhiêu tiền một cân, sau đó tôi thấy cha ngần ngừ. Tôi biết là nó đắt. Lúc đõ tôi trỗi dậy một nỗi niềm thương cha khôn tả. Tôi nói: "Chúng ta đi thôi cha". Ngay từ lúc  đó, con bé có một quyết tâm cho việc phải học thật giỏi, để không nghèo. Cha chính là người đã dạy tôi bài học phải nỗ lực sống tốt. 
Rồi theo năm tháng, dưới tình yêu thương của cha mẹ cô bé đó trưởng thành. Đối với cha mẹ, tôi là một đứa con gái xinh đẹp, đáng yêu, và là niềm tự hào của cả gia đình (Tôi nói là đối với cha mẹ tôi thôi nhé). Như bao cô gái khác, tôi vấp vào tình yêu. Mọi thứ trở nên quá mới mẻ, và cô gái tuổi 20 khi đó, không khỏi ngỡ ngàng trước cuộc sống muôn màu ấy. Tôi thất bại trong tình yêu đầu. Và cũng là lần đầu làm cha mẹ thất vọng, bởi những gì họ mong mỏi lớn hơn nhưng gì tôi ngây ngô tin tưởng. Tôi về và nép vào cánh tay cha, người đàn ông không còn phải mặc chiếc áo sờn vai, chiếc quần bạc phếch nữa, mà đã trở thành người đàn ông thành đạt trong công việc, nhưng vẫn giữ nụ cười hiền và vòng tay ấm áp. Có điều mái tóc đã bạc màu, và tôi khóc! Cha đã dạy cho tôi bài học vô cùng quan trọng, đó chính là sự tha thứ và lòng bao dung. Đây cũng chính là lý do vì sao tôi đã luôn có một cuộc sống thanh bình sau này.
Vậy đó các bạn, người thầy đầu tiên, dạy tôi biết yêu thương, biết tin yêu, biết nỗ lực hết mình và giàu lòng vị tha trong cuộc sống, chính là cha tôi. Chúng ta đều có người thầy của riêng mình phải không? Hãy coi đó là niềm hạnh phúc lớn lao và sống một cuộc đời thật ý nghĩa!
Vài nét về tác giả:
Suốt cuộc đời này tôi cũng chỉ có thể trở thành chính mình được thôi. Không thể là ai khác, và sống thay ai khác. Bởi tự tôi biết rằng thế giới bảy tỷ người cũng chỉ có một - tôi! - Hải Yến

Nguồn: http://ngoisao.net

Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

Như một cách tạ ơn đời...

Nhớ ngày đó, ngoài trời mưa gió và lạnh. Lũ học trò chúng tôi buồn nao lòng khi nghe tin Thầy đã mất sau nhiều tháng liền chống chọi với căn bệnh quái ác. Sống với đời bằng cả trái tim, bằng sự hiến tặng thân xác, với Thầy cũng là lý đời hợp lẽ. Thầy đã rời xa cuộc đời này, nhưng những ý niệm cao đẹp đó vẫn sống mãi trong lũ học trò chúng tôi. Thầy như ngọn nến đã tự đốt cháy mình để thắp sáng cho cuộc đời của nhiều người khác.

Ánh nắng cuối ngày rồi cũng sẽ tắt, dòng sông con đò rồi cũng sẽ rẽ sang một hướng khác. Nhưng việc trồng người luôn cảm thụ với chuyến đò ngang, cứ tần tảo đưa rồi lặng lẽ quay về đưa sang. Con đò năm xưa của Thầy nặng trĩu yêu thương, hy sinh thầm lặng.
Cây đời ngã xuống mà không mục. Để lại học trò niềm tin sáng tươi. Sống hay chết cũng là một lẽ. Hạt bụi tan là thể phách kiếp người. Hạt bụi còn là thần thức tinh khôi. Mãi mãi bên tôi lời giảng Thầy vang vọng. Đã xa rồi mà cứ ngỡ hôm qua. Thầy giáo tôi giờ theo cánh nhạn bay xa... Thầy giáo lớp 12 văn ngày ấy của lũ học trò chúng tôi là như thế...
Thật ra, tôi thấy mình chưa bao giờ cảm ơn Thầy một cách đầy đủ và đúng nghĩa. Những lời tri ân, lời cảm ơn cũng chỉ là những lời nói đơn thuần. Thời gian qua đi, sẽ có nhiều thứ bị lãng quên nhưng ký ức về Thầy, tôi mãi khắc ghi. Nơi miền sâu thẳm nào đó, Thầy có thể đọc được những dòng chữ này của đứa học trò cũ, như một nén nhang dâng lên Thầy với lòng tri ân sâu nặng.
Mỗi năm vào ngày Lễ Macchabée tại khoa Y, tôi về viếng Thầy. Nơi phòng thực tập. Người thầy nằm đó im lặng trao gởi xác thân khô. Học trò với nhiệt kế, ống nghe, áo choàng, mũ trắng, vẫn cặm cụi nghiên cứu, học tập sự cấu tạo ra cơ thể con người, vẫn còn đó hình hài với bài giảng mạch máu thớ cơ, khớp xương, nội tạng. Vẫn còn đó nét tinh anh trong mỗi dịp lễ tri ân truyền thống.
Có những người mái tóc còn xanh, những người tóc đã bạc trắng, có người giàu người nghèo, công chức hay lao động chân tay. Họ đã ra đi nhưng thể phách vẫn còn đó. Họ đồng hành với sinh viên phục vụ khoa học và cao hơn là vì cuộc sống tươi đẹp. Họ là những người bất tử. Với họ, tài sản cũng không có gì đáng giá ngoài thân xác của cha mẹ ban cho. Suy nghĩ thật giản đơn chẳng cần triết lý, cũng không tính toán, họ gởi lại thân xác mình để góp phần tiếp nối sự sống cho đời.
Nhà thơ Tố Hữu đã viết: "Có cái chết hóa thành bất tử". Chết là hết. Thân xác này chỉ có giá trị khi ta còn sống và làm việc cống hiến cho xã hội. Lúc chết đi, chẳng còn ước mơ hay niềm vui nỗi buồn nào vương vấn nữa, thân thể đáng quý đó cũng sẽ trở về với cát bụi. Chỉ còn lại nấm mồ xanh cỏ là hạt bụi của thời gian. Hạt bụi con người là hạt bụi quý giá vô biên. Xin được trân trọng tri ân những người Thầy thầm lặng cao cả đó. Với họ, như một cách tạ ơn đời.
Nguồn yume..vn

Cần đập vỡ bao nhiêu quả trứng?




Isaiah Berlin (1909-1997)
Cần và được phép đập vỡ bao nhiêu quả trứng để có được một đĩa trứng rán lý tưởng mà có lẽ chẳng bao giờ có được trên đời này? Isaiah Berlin (1909-1997), tác giả nổi tiếng của luận văn “Hai khái niệm về Tự do” (1958), trong một tác phẩm khác, đã đặt câu hỏi đầy băn khoăn như thế đối với mô hình giáo dục lý tưởng kiểu Platon.
Từ giác độ của “nạn nhân”, câu hỏi sẽ trở thành: bao nhiêu quả trứng đã bị đập vỡ cho một giấc mơ lý tưởng?

BA NIỀM TIN CHẮC NỊCH

Mô hình Platon, theo I. Berlin, gồm ba niềm tin chắc nịch:

1.  Đối với mọi câu hỏi, phải và chỉ có thể có một câu trả lời duy nhất đúng; mọi câu trả lời khác tất yếu phải sai;

2.  Nhất định có một con đường đáng tin cậy để phát hiện những “chân lý” ấy;

3. Các câu trả lời đúng - một khi đã được tìm ra - tất yếu phải phù hợp với nhau và kết thành một toàn bộ hoàn chỉnh, vì chân lý thì không thể tương thích với cái gì khác nó.

Niềm tin thứ nhất là thuyết nhất nguyên trong triết học hay tôn giáo, xuất phát từ niềm tin vào sự hiện hữu của một - và chỉ một - nguyên lý nền tảng. Niềm tin này lan sang lĩnh vực khoa học, chính trị, xã hội, theo đó chỉ có một viễn tượng đúng để giải quyết vấn đề, còn những viễn tượng khác là không hoặc ít chính đáng hơn và câu trả lời của chúng nhất định phải sai. Ngay cả khi không hoặc chưa tìm ra câu trả lời đúng, người ta vẫn tin rằng chỉ có thể có một câu trả lời duy nhất đúng mà thôi.

Niềm tin thứ hai có tác động lớn đến tư duy giáo dục. Phải có một con đường đi đến chân lý và có thể tìm ra nó! Lý tưởng có ích gì nếu ta tuyệt nhiên không biết có thể đến gần hơn với nó hay không? Thế nhưng, sự hiện diện của một lý tưởng - dù hấp dẫn và tốt đẹp đến mấy - có nhất thiết bảo đảm sẽ có một con đường dẫn đến nó không? Chưa chắc! Tuy thế, niềm tin này vẫn cứ ăn sâu vào nền văn hóa giáo dục: vẫn có một con đường để đi từ hiện tượng đến bản chất, từ cái vô thường, tương đối đến cái vĩnh hằng, tuyệt đối. “You can get it, if you really want” (“Bạn có thể đạt được nó, nếu bạn thật sự mong muốn”), hầu như là tín điều khó lay chuyển của mọi nỗ lực sư phạm.

Niềm tin thứ ba là về sự hài hòa, trong đó mọi bộ phận đều phù hợp hoặc có thể trở nên hòa hợp với nhau trong một tổng thể. “Vương quốc” của những câu trả lời đúng là một cái toàn bộ có sự nhất trí nội tại, do đó, không có mâu thuẫn, hàm hồ, nghịch lý, nghĩa là, rành mạch, nhất phiến, không có bi kịch. Trong tâm thức ngày nay, niềm tin ấy tuy có trở nên khả nghi, nhưng vẫn chưa đánh mất sức hấp dẫn!

Nói chung, niềm tin rằng chân lý là cái gì có sẵn và có thể được tìm ra chứ không phải được cấu tạo nên, là hòn đá tảng của tư duy siêu hình học Tây phương kết hợp từ hai truyền thống lớn: tư duy Hy lạp - Platon và đức tin Kitô giáo. Dưới nhiều hình thức khác nhau, niềm tin này hóa thân vào trong nhiều lý tưởng luân lý, giáo dục, chính trị, xã hội cho tới ngày nay. Ít ra là ở hai “thái độ” cơ bản: tin rằng tư tưởng có thể thay đổi thế giới, và tin vào sự phát triển ngày càng cao hơn (tuy có thể có sự bất liên tục) của cá nhân, xã hội và, thậm chí, của cả nhân loại.

Dưới ánh sáng của “lý tưởng đúng”, xã hội và nền luân lý cần được biến đổi. Câu hỏi chỉ còn là: điều gì sẽ xảy ra khi không phải ai cũng chia sẻ lý tưởng ấy hoặc xem đó là mục tiêu để phấn đấu. Trong khi Karl Popper nhận ra mầm mống của tư tưởng toàn trị trong mô hình Platon và lưu ý rằng con người có quyền hy sinh cho lý tưởng của riêng mình, nhưng không nên bằng “máu của người khác”, thì Max Brod viết một cách mạnh mẽ: “địa ngục ắt sẽ không hoàn chỉnh, nếu thiếu những lời hiệu triệu của… thuyết duy tâm (thuyết lý tưởng)”!

Tuy nhiên, trong lĩnh vực giáo dục, mô hình lý tưởng tỏ ra ít nguy hại hơn, vì dường như không thể thiếu việc nhìn con người theo khả thể hơn là theo hiện trạng của họ. Giáo dục sẽ ra sao nếu không có lòng tin vào năng lực tiềm tàng của trẻ em và không có sự tin cậy được “ứng trước” cho thầy cô giáo? Bạn có yên tâm giao phó con em mình cho những người thầy không có “tâm hồn” và lý tưởng?

TỪ TẦM CAO CỦA LÝ TƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ GIÁO DỤC THỰC TẾ

Một trong những vấn đề lớn của mô hình giáo dục lý tưởng nằm ngay trong “tầm cao” của lý tưởng! Lý tưởng không nhất thiết lúc nào cũng “phi thực tế”, nhưng sẽ mất đi sức hấp dẫn khi nó đòi hỏi quá nhiều và quá cao nơi con người. Một khi cái “phải là” và cái “có thể là” có khoảng cách quá xa, lý tưởng sẽ đẩy con người vào chỗ thất vọng, yếm thế, chán chường hơn là nâng họ lên khỏi thực tế tầm thường.

Một cách tóm tắt, người ta có thể nêu những điểm yếu không thể phủ nhận của mô hình lý tưởng trong giáo dục:

1. Xã hội công nghiệp hiện đại đặt ra những yêu cầu cho nhà trường và giáo dục mà mô hình lý tưởng ít có khả năng thỏa ứng;

2. Mô hình ấy thiếu một quan niệm về “giáo dục kỹ thuật”;

3.  Mô hình “duy thực” mà ta sẽ làm quen tiếp theo đây tỏ ra đáp ứng nhiều yêu cầu của thời đại một cách hiệu quả hơn;

4.  Mô hình lý tưởng có thể trở nên đặc tuyển, đặc quyền và ít quan tâm đến sự bình đẳng xã hội trong thế giới dân chủ hiện đại.

Tuy vậy, mô hình ấy vẫn có những điểm mạnh không thể xem nhẹ:

1. Nhờ mô hình lý tưởng, con người ngày càng đạt tới những thành tựu giáo dục và khoa học ở mức độ cao;

2. Chú ý nhiều đến việc vun bồi nền văn hóa tinh thần trong lĩnh vực giáo dục, nhất là giáo dục đạo đức và tính cách;

3.Đặt vai trò người thầy vào trung tâm của trách nhiệm giáo dục;

4. Nhấn mạnh viễn tượng “nhân bản” trong đời sống cá nhân và xã hội.

Trong “hoàn cảnh hậu-hiện đại” của một xã hội toàn cầu hóa ngày nay, mô hình lý tưởng trong giáo dục dễ trở thành đối tượng của sự nhạo báng và nghi ngại. Tuy nhiên, vẫn không đủ lý do để hoàn toàn loại bỏ nó, hay, để nói ngược lại với Max Brod: trần gian ắt sẽ không hoàn chỉnh, nếu thiếu đi những lời hiệu triệu của mô hình lý tưởng trong giáo dục!
Nguồn tiasang.com.vn

Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2013

Maple Bear áp dụng phương pháp giáo dục mầm non tiên tiến

Phương pháp giáo dục hiện đại đã giúp các bé của trường rèn luyện kỹ năng, trí tuệ, luôn ở trong tư thế chủ động, tích cực học tập và nắm bắt, ghi nhớ các vấn đề tốt hơn.

Không chỉ trang bị điều kiện cơ sở vật chất hiện đại, trường Mầm non Quốc tế Maple Bear còn chú trọng tới các phương pháp giảng dạy. Theo đó, trẻ được học thông qua các trải nghiệm và khám phá, qua phương pháp tích hợp rèn luyện để rèn luyện các kỹ năng từ hoạt động vui chơi. Để trang bị kiến thức cho bé ở tuổi mầm non, các thầy cô của trường đã ứng dụng nhiều phương pháp giảng dạy tiên tiến trên thế giới.
Cac_tro_choi_ren_luyen_ky_nang_va_tri_tu
Các trò chơi rèn luyện kỹ năng và trí tuệ tại trường Maple Bear.
Ở tuổi mầm non, trẻ khó có thể học các lý thuyết và nhớ chi tiết những điều trong sách. Do đó, các thầy cô tại trường Maple Bear áp dụng phương pháp học qua trải nghiệm và khám phá, đồng thời đóng vai trò định hướng, giúp bé được trải nghiệm thông qua hình ảnh, phim, đồ chơi, bài hát, tiếp xúc thực tế… Phương pháp này giúp trẻ ghi nhớ, học hỏi những kiến thức và kỹ năng cần thiết.
Đồng thời, các trò chơi rèn luyện kỹ năng và trí tuệ sẽ giúp trẻ nắm bắt các vấn đề thoải mái, tự nhiên. Khi muốn trẻ học về bếp, trường trang bị cho các bé những chiếc tạp dề, mũ, dụng cụ nấu ăn và học cách rửa tay, cách lau bàn ghế, chén đĩa… Với cách làm đó, trẻ học mà chơi, rèn luyện kỹ năng thông qua chính những trải nghiệm của mình và ghi nhớ điều giáo viên hướng dẫn.
Be_lon_len_tung_ngay_thong_qua_nhu
Qua những giờ học vui nhộn, bé được trải nghiệm và khám phá cuộc sống.
Không gian bên ngoài là cả một thế giới kích thích tò mò của trẻ, với nhiều điều cần khám phá nên việc tăng cường học ngoài trời là hoạt động được đề cao và chú trọng hơn. Các hoạt động như trồng cây, hái quả, làm các thí nghiệm phù hợp độ tuổi, chơi thể thao, để trẻ quan sát và vẽ lại. Bên cạnh đó, trẻ còn được học bơi, tham gia các giờ ngoại khóa, chơi các trò chơi vận động ngoài trời hàng tuần với không gian xanh ở công viên hay sở thú và nhiều địa điểm khác.
Nhung_buoi_hoc_ngoai_troi_giup_be_hieu_s
Những buổi học ngoài trời giúp bé hiểu và thích thú với những điều mới mẻ vừa khám phá.
Ngoài ra, giáo viên của trường cũng chú trọng đến việc đáp ứng sở thích và mong muốn của trẻ để lồng ghép các bài học về ngôn ngữ, toán học, khoa học một cách phù hợp, có hệ thống. Các thầy cô tích hợp kiến thức bộ môn vào các hoạt động khác nhau, sử dụng các phương pháp phù hợp với từng giai đoạn phát triển của trẻ. Trẻ sẽ được dạy đếm số ngay trong các bài hát ngộ nghĩnh, dễ thương, học về hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật… bằng các trò chơi ráp hình ở lớp.
Với các phương pháp giảng dạy hiện đại, trẻ được trải nghiệm và khám phá bằng mọi giác quan để cảm nhận thực tế thế giới xung quanh mình, luôn ở trong tư thế chủ động, tích cực học tập, nắm bắt và ghi nhớ các vấn đề tốt hơn.
(Nguồn: Trường Mầm non Quốc tế Maple Bear) - Vnexpress.

Thứ Năm, 14 tháng 11, 2013

Cô bé lớp 3 viết chữ đẹp như in

Với nét chữ như vẽ tranh cùng những lời lẽ đáng yêu, bài thơ của Vũ Minh Châu đã chiếm trọn được tình cảm của thầy cô trường tiểu học Lê Văn Tám (Hà Nội).

Tác giả của bài thơ "Nâng cánh ước mơ" có những nét chữ đẹp như in này là Vũ Minh Châu - một học sinh lớp 3, trường tiểu học Lê Văn Tám (Hai Bà Trưng, Hà Nội).
Với màu mực tím trên giấy ô ly quen thuộc cùng những dòng thơ được viết đẹp như vẽ tranh của Châu thực sự đã khiến nhiều người thích thú.
Cô bé lớp 3 viết chữ đẹp như in 1
Bài thơ với nét chữ đẹp như in của cô học trò nhỏ Vũ Minh Châu.
Bài thơ này được Châu tự sáng tác và trình bày trong chương trình làm báo tường của trường tiểu học Lê Văn Tám nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20/1.
Xuyên suốt bài thơ, từ đầu đến cuối, các nét chữ đều như một, đặc biệt là các chữ viết hoa được cô học trò nhỏ thể hiện rất công phu. Bên cạnh đó, những lời thơ chứa đựng nhiều tình cảm nhưng ngây thơ của Châu dành cho cô giáo cũng khiến người xem không khỏi thích thú. Bài thơ được mở đầu như sau: "Tuổi thơ chập chững đến trường/Cô dang tay đón tình thương mẹ hiền/Ngỡ cô như một nàng tiên/Từ trong cổ tích dịu hiền bước ra…".
Theo đánh giá của các thầy cô giáo trong trường, các nét chữ của Châu chưa thực sự hoàn hảo, nhưng đó mới đúng là sự ngây thơ, vụng dại của một học sinh lớp 3.