Thuật ngữ Mathématiques, Mathématiciens, hay các ngôn từ tương đương
trong ngôn ngữ Châu Âu đều bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp. Chúng được phát
sinh từ động từ ”hiểu biết, học hỏi”. Thời xa xưa nó chưa mang ý nghĩa
đặc thù như ngày nay, từ Hy Lạp; mathema có nghĩa là ”điều được đem ra
giảng dạy”, nói một cách cụ thể hơn nó là một hình thức của tri thức.
Việc dạy toán cổ xưa ở Hy LạpChúng
ta biết rất ít về việc dạy toán tại Hy Lạp Cổ đại. Hình như một số
trường triết học đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đào tạo các
nhà Toán học, khi mà chuyên ngành hóa trí tuệ còn là ngoại lệ. Ở thời kỳ
cổ điển, người ta có nói đến sự tồn tại của những trường gọi là “khoa
học”, như trường Chios hoặc trường Cizyque. Tuy nhiên, chúng ta không
biết các trường ấy đào tạo phổ thông hay chuyên ngành, và có phải là một
cái gì khác cao hơn chứ không chỉ là một nhóm môn đệ tập trung xung
quanh một ông thầy có tiếng tăm.
Như trong y học đã có những bằng
chứng sớm hơn và vững chắc hơn về sự tồn tại của những trường y khoa –
hình như môi trường gia đình có một vai trò trong sự đào tạo của nhà Bác
học. Chúng ta có rất ít chi tiết về tiểu sử các nhà toán học song cũng
biết rằng, Archimèdes là con một nhà Thiên văn học, Hypsiclès là con một
nhà toán học, các nhà hình học Ménechme và Dinostrate là hai anh em,
còn Hypatie, nhà toán học nữ Hy Lạp duy nhất mà chúng ta biết, là con
gái nhà toán học Theon ở Alexandria.
Thực ra, Hy Lạp thời kỳ cổ
điển không biết đến Nhà nước tập quyền kiểu ở Cận Đông thời Cổ đại, nơi
đã nổi lên rất sớm nhu cầu đào tạo một giai cấp thư lại “viên chức”. Hy
Lạp thời đó hợp bởi nhiều thành bang nhỏ độc lập luôn tuôn xung đột với
nhau, hoặc những tổ chức lỏng lẻo như kiểu thị tộc nên không cần đến các
hệ thống giáo dục có tổ chức như ở Ai Cập, Babylone hoặc Trung Quốc.
Tuy
rằng thương mại, đạc điền và hàng hải đòi hỏi những tri thức tối thiểu
về toán học và tuy các phép tính sơ đẳng có được dạy tại trường học,
nhưng Thành bang Hy Lạp không quan tâm mấy đến giáo dục trí tuệ và kỹ
thuật cho thanh thiếu niên. Nhà trường do các cá nhân khởi xướng, trong
đó có một số trường trở nên nổi tiếng. Hai nhà sư phạm vĩ đại người
Athènes đầu Thế kỷ IV Tr.CN là Socrates và Platon đều lập ra cơ sở giáo
dục riêng của mình – Socrates lập trường hùng biện và Platon lập trường
triết học.
Cả hai ông đều coi toán học là công cụ không thể thiếu
cho sự phát triển trí tuệ và thừa nhận môn học này đòi hỏi ”thể dục” và
tập trung tinh thần. Nhưng mỗi ông có một cách tiếp cận toán học khác
nhau. Socrates cho rằng, cũng như những cuộc tranh luận đối nghịch mà
thanh niên rất ưa thích, toán học cần mở mang những đầu óc ”minh mẫn”
cho dù nội dung của nó không có mấy giá trị đối với người công dân mà lý
tưởng là hiến mình cho đời sống chính trị. Nhưng đối với Platon, một
mặt thừa nhận toán học cũng có một vai trò giáo dục dự bị, song còn coi
nó là một môn vỡ lòng cho nghiên cứu triết học – tức là triết học duy
tâm Platon – và cả làm phương tiện chọn lọc bởi vì các môn toán học và
triết học mà ông giảng dạy cùng với nhau tạo thành một hình thức tu
luyện khổ hạnh trí tuệ thiết yếu cho đề án cải cách chính trị của ông.
Thế
kỷ III và II Tr. CN đã chứng kiến một sự phát triển hết sức to lớn
trong toán học. Đa số các tác phẩm của thời kỳ ấy còn đến ngày nay là
tác phẩm của các nhà toán học ít nhiều gắn bó với Alexandria, Kinh đô
của triều Ptolémée Hy Lạp cai trị Ai Cập từ 306 đến 31 Tr.CN. Được biết
rằng, các triều Vua Ptolémée áp dụng một chính sách đỡ đầu rộng rãi –
trước kia chỉ dành cho một vài cá nhân, thường là các nhà thơ – bằng,
cách lập ra một số cơ quan, nổi tiếng nhất là Thư viện và Bảo tàng
Alexandria. Những cơ quan mới đó rõ ràng đã đem lại một sự thúc đẩy mới
cho nghiên cứu văn học. Ảnh hưởng của chúng đối với sự phát triến của
khoa học không rõ rệt bằng nhưng chắc phải có bầu không khí thuận lợi mà
các cơ quan đó tạo ra chỉ có thể có lợi cho sự phát triển các khoa học.
Tuy
nhiên, chúng ta không biết những học giả vĩ đại thời đó được nhiều tài
liệu chứng tỏ rằng đã có mặt tại Alexandria – như Hérophile de
Chalcédoine, Euclides, Straton de Lampraque, Aristarque de Samos,
Eratosthène de Cyrèrle, Apollonius de Perge – có đào tạo môn đệ, giảng
dạy hoặc thuyết giảng hay không, trong khuôn khổ Bảo tàng Alexandria hay
với tư cách cá nhân. Vậy là chưa phải đã chắc chắn tồn tại một trường
học hẳn hoi tại Alexandria, thực ra mãi đến thời đế chế La Mã, Bảo tàng
Alexandria này mới hoạt động như một trường đại học và rồi được mô phỏng
tại Ephèse, Athènes, Smyrne hoặc Egine.
Các văn bản toán họcBên
cạnh toán học thuần tuý theo đúng truyền thống Hy Lạp, còn có một loạt
văn bản toán học có thể gọi là mang tính chất ”tính toán”- giống như văn
bản tìm thấy trong toán học Ai Cập, Babylone hoặc Trung Hoa; ví dụ, một
bộ sách toán học khá muộn, được coi là của Héron d’Alexandrie, đã được
soạn thảo và sử dụng cho đến tận thời kỳ Byzance. Có lẽ nó dùng để đào
tạo các kỹ thuật viên, như trong các văn bản Babylone hoặc Ai Cập. Các
bài toán đặt ra đều nói rõ ràng đến một tình hình cụ thể, cho dù tình
hình đó nhiều khi chỉ là một phương tiện giảng dạy.
Hoàn toàn
không có điều gì tương tự trong các sách cổ điển của Euclides,
Archimèdes hoặc Apollonius, những người ít quan tâm đến các ứng dụng
thực hành. Cách trình bày lý thuyết số của Euclides hoàn toàn không cần
viện dẫn những ví dụ về số. Các tác phẩm còn đến ngày nay hình như cho
thấy, có sự tách biệt rõ rệt giữa nghiên cứu thuần túy và ứng dụng thực
hành. Tuy nhiên, cho dù hai chủ đề này được phân biệt rõ ràng như vậy,
cũng các tác giả ấy đều được quan tâm đến toán học ”thuần túy” lẫn ”ứng
dụng” như nhau.
Bộ phận toán học Hy Lạp mà theo quy ước ta gọi là “thuần túy” có 4 đặc điểm sau đây:
Trình
bày suy diễn: những chuyên luận cổ điển, như nguyên lý của Euclides
được trình bày theo cách suy diễn. Kết quả được xác lập bằng chứng minh,
hoặc bằng kết quả đã đạt được chứng minh từ trước hoặc bằng những
nguyên lý đặt ra ngay từ đầu. Đây có thể coi như là một cách tiếp cận
nửa theo tiên đề, nhấn mạnh đến khía cạnh lôgích và tất yếu của toán
học. Song, cần ghi nhận rằng nhiều khi khó tách rời khía cạnh hùng biện
với ưu điểm là thu hút sự chú ý của học sinh và nhằm đạt tới hiệu quả
tâm lý và sư phạm, với khía cạnh lôgích tập trung vào cơ cấu tất yếu và
khách quan của biện luận.
Xu hướng hình học: cho dù nói đến lý
thuyết số, hình học hay thiên văn học, xu hướng của những sách chứng
minh này về cơ bản là hình học. Toán học cổ đã du nhập nhiều ký hiệu
khác nhau để ghi các số và phân số cũng đã dùng những cách viết tắt.
Nhưng, chính ở việc sử dụng những hình hình học mà người Hy Lạp đi xa
nhất trong thử nghiệm dùng những ký hiệu ”biểu diễn”. Khả năng chia nhỏ
các hình thành những phần tử, ấn định các quay tắc dựng hình được phép,
tìm ra những đặc tính hình như đã ”có mặt” trong các hình, tất cả các
khía cạnh ấy hoàn toàn thích hợp với cách trình bày suy diễn.
Lý tưởng khoa học không vụ lợi: ham thích bản thân tri thức là động lực nghiên cứu toán học.
Toán học và triết học: sự phát triển của toán học thuần túy diễn ra đồng thời với sự phát tiển của triết học.
Các nhà triết học và các nhà toán họcCùng
với triết học đã diễn ra song song trong toán học là cuộc tranh luận về
phương pháp luận và duy ý luận về khoa học. Sự phân loại khoa học do
Geminus, nhà thiên văn học và toán học Hy Lạp Thế kỷ ITr.CN (xem bài
trong khung), là một ví dụ: cách phân loại của ông giả đình tồn tại một
khối tri thức khoa học đã khá phát triển và rất đa dạng. Nó chủ trương
cho một sự phân biệt giữa các khoa học ưu tiên việc nghiên cứu trừu
tượng và tách rời khỏi những ứng dụng có thể có.
Theo Aristotles,
toán học nghiên cứu đặc tính có thể là ”trừu tượng” của các vật thể
trong thế giới vật chất. Ngoài ra, giống như tất cả các khoa học chứng
minh, toán học dựa trên các nguyên lý khiến cho một môn khoa học này có
thể giả định trước một môn khoa học khác – ”phụ thuộc vào một môn khoa
học khác” như lời Aristotles. Ví dụ: quang học ”phụ thuộc” vào hình học.
Như vậy là có cả một thứ bậc các khoa học về mặt lôgích. Phải phân biệt
cách xếp thứ bậc ấy với cách phân chia (thường được các tác giả Hy Lạp
nhấn mạnh) giữa toán học ”vụ lợi” với toán học ”không vụ lợi”. Theo
Aristotles, chỉ có toán học ”không vụ lợi mới xứng đáng được đưa vào một
nền giáo dục tự do”. ”Tự do” có nghĩa là bản thân mình là mục đích.
Vậy
là nghệ thuật tô điểm thắng thế kỹ thuật thiết thực. Khoa học không vụ
lợi, tự bản thân nó là mục đích, là hoạt động tối cao. Đối với Platon,
toán học do người không phải là Hy Lạp phát triển – cho dù các nền văn
minh của họ tuyệt vời đến đâu – chỉ là nghệ thuật, vì nó không thoát
khỏi những trói buộc của nhu cầu. Vậy là các nhà triết học Hy Lạp hỗn
hợp các khía cạnh thuộc các lĩnh vực khác nhau, cả phương pháp luận lẫn
duy ý luận. Tuy các chuyên luận về quang học và thiên văn học vay mượn
hình thức của các trình bày hình học, do phương pháp suy diễn đặc biệt
thích hợp với việc loại trừ tất cả những gì liên quan đến cái ”cảm thụ”
và cái ”thực hành”, song không dễ biết được, các nhà toán học Hy Lạp làm
thế nào để đồng nhất với cách nhìn nhận đó về hoạt động của họ. Ngoài
ra, cho dù dễ mắc phải, song chúng ta không được lẫn lộn sự phân biệt
thời nay giữa toán học ”thuần túy” và ”ứng dụng” với sự phân biệt thời
xưa giữa “hiểu được” và ”cảm thụ được”, vì những khái niệm ấy không
trùng hợp nhau.
Nói đến lý tưởng của ”khoa học không vụ lợi” dẫn
ta đến vấn đề động cơ của việc phát triển toán học. Cần phân biệt giữa
nguyên nhân bên ngoài với những gì có thể được miêu tả là nguyên nhân
bên trong. Trong số các nguyên nhân bên ngoài, cần nhấn mạnh đến vai trò
rất to lớn của quang học và thiên văn học mà chúng ta xếp vào lĩnh vực
vật lý, nhưng người xưa lại đưa vào toán học. Cần cộng thêm vào các môn
đó môn tĩnh học, khoa học về thế cân bằng.
Chúng ta hiểu biết gì
về các ảnh hưởng “bên trong”? Ta có thể thử đi tìm những ảnh hưởng đó
trong các bài tựa mà các tác giả – nhà toán học, kể từ Archimèdes trở
đi, hình như đã mở đầu các tác phẩm của họ. Điều suy ra từ các bài tựa
ấy là: không phải là sản phẩm của những đặc điểm tâm lý riêng của trí óc
Hy Lạp, việc nghiên cứu không vụ lợi giả định trước sự tồn tại của một
cộng đồng các nhà toán học, tuân theo những tiêu chuẩn nhất định. Trước
hết, các nhà toán học cảm thấy không có nghĩa vụ phải biện minh cho việc
thực hành khoa học vì bản thân khoa học. Đó là điều đương nhiên. Cùng
lắm, họ có thể thừa nhận rằng họ chọn toán học chứ không phải ”vật lý”
hoặc “thần học” vì toán học là một môn học chắc chắn, nghiêm túc, chặt
chẽ hơn, nó nghiên cứu một sự vật “ổn định” ( khác với “vật lý”), nhưng
dẫu vậy vẫn ”đạt tới được” ( khác với ”Thần học”).
Ở thời kỳ Hy
Lạp hoá, các nhà toán học này tạo thành một cộng đồng “quốc tế” mà các
thành viên ở rải rác khắp xung quanh Địa Trung Hải (Hy Lạp, Tiểu Á, Ai
Cập, Sicile). Họ có quan hệ cá nhân với nhau, đến thăm nhau hoặc gửi cho
nhau những tác phẩm mới nhất của họ. Trước hết họ cố đề ra những bài
toán cho đồng nghiệp, tự giải những bài toán mà họ đề ra; thậm chí phê
phán những bài giải không hoàn chỉnh mà người khác đề xuất. Qua đó, một
số người xây dựng được một uy tín vững chắc. Các ấn phẩm được gửi đến họ
để xem xét, đánh giá rồi lại chuyển những ấn phẩm ấy đến những người
khác được coi là đáng gửi. Trong số ấy, cũng có một ít kẻ bịp bợm, mà
khi có dịp là người ta sẽ lật mặt bằng cách gửi đến họ những bài toán
không có cách giải mà họ cứ khoe là đã giải được. Những quan hệ trên đây
cố nhiên chỉ mang tính cách cá nhân, không nằm trong khuôn khổ của một
hình thức thể chế nào hiểu theo nghĩa hiện đại.
Nói vắn tắt, lý
tưởng ”toán học không vụ lợi” hình như gắn liền với sự tồn tại của một
nhóm người trong đó những vấn đề đối địch và cạnh tranh không hoàn toàn
xa lạ với những đặc điểm của cộng đồng khoa học ngày nay. Dẫu vậy, cũng
không nên đẩy sự so sánh đi quá xa. Ví dụ, giữa các cộng đồng cổ xưa và
hiện đại có sự khác nhau rõ rệt về quy mô. Các nhà khoa học nói chung,
chứ không chỉ nói riêng các nhà toán học thời kỳ Hy Lạp hoá, chắc chắn
không đông quá vài trăm người. Ngoài ra, điều không thể nghi ngờ là do
không có một thể chế đích thực nào nên cái cộng đồng mà họ hợp thành là
rất mỏng manh. Ngay từ thời kỳ La Mã, những tác giả kiệt xuất nhất
(Ptolémée, Pappus) hình như chỉ quan tâm đến việc hoàn thiện những kết
quả đã đạt được. Tinh thần ganh đua và tìm tòi những lý thuyết mới của
thời kỳ trước đây rõ ràng đã không còn nữa.
CÁC PHÂN LOẠI MATHEMATA CỦA GEMINUSNhững
người khác, trong đó có Geminus, cho rằng phải phân chia toán học theo
cách khác. Một bên, họ xếp những thứ có thể cảm thụ và những thứ liên
quan đến chúng. Có lẽ họ gọi là hiểu được những đối tượng chiêm ngưỡng
mà tâm hồn dựng nên trong mình, thoát khỏi mọi hình thức vật chất. Họ
xếp số học và hình học là hai bộ phận đầu tiên và quan trọng nhất của
toán học đề cập đến những gì hiểu được. Còn về những bộ phận của toán
học đề cập đến những thứ cảm thụ được, thì có 6 lĩnh vực: cơ học, thiên
văn học, quang học, trắc địa học, cononic và logisic.
Ngược lại,
đối và họ, không như những người khác, chiến thuật không xứng đáng được
coi là một bộ phận toán học tuy rằng nó sử dụng khi thì logistic, như
trong việc thống kê quân số, khi thì trắc địa học như trong việc phân
chia đất và đạc điền. Họ càng không coi sử học và y học nằm trong toán
học, tuy rằng các tác giả các tác phẩm sử học nhiều khi dùng đến các
định lý toán học để chỉ những đều kiện khí hậu hoặc kích thước các thành
phố, đường kính và chu vi các thành phố ấy và tuy rằng các thầy thuốc
dùng những phương pháp này để rọi sáng vào nhiều vấn để thuộc lĩnh vực
thẩm quyền của họ. Và ích lợi của thiên văn học đối với y học đã được
Hippocrates và tất cả những ai nghiên cứu các mùa và các vùng chỉ ra hết
sức rõ ràng.
Bách Khoa Tri Thức