Từ thực tế giảng dạy, chúng tôi nhận thấy có nhiều con đường để tiếp
cận với những giá trị của tác phẩm, trong đó có một phương pháp khá đơn
giản và hữu hiệu là tiếp cận từ chính nhan đề của tác phẩm.
Nhà thơ Xuân Diệu đã có lần phát biểu đại ý các nhà văn khi đặt tên
cho tác phẩm cũng trăn trở như cha mẹ đặt tên cho con. Thật vậy, quá
trình sáng tạo cũng “mang nặng đẻ đau”, khi “đứa con tinh thần” ra đời
nhà văn cũng có niềm vui sướng, hạnh phúc như người mẹ người cha vừa có
thêm một đứa con; rồi “đứa con tinh thần” ấy còn khiến nhà văn phải bận
tâm nhiều, chăm chút sau mỗi lần tái bản. Và có “đứa con tinh thần” đem
lại cho cha mẹ vinh quang, hạnh phúc, nhưng cũng có không ít nhà văn lao
đao khốn khổ vì “đứa con tinh thần” của mình.
Trong các đề thi tuyển sinh vào đại học, cao đẳng và thi tốt nghiệp
THPT cũng đã không ít lần đề cập ý nghĩa nhan đề tác phẩm. Ví dụ: “Giải
thích ý nghĩa nhan đề “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành”; “Truyện ngắn
“Chí Phèo” của Nam Cao đã mấy lần đổi tên? Ý nghĩa của những tên gọi
ấy?”, “Giải thích ý nghĩa nhan đề và lời đề từ bài thơ “Tiếng hát con
tàu” của Chế Lan Viên…
Nhan đề của tác phẩm là một tín hiệu nghệ thuật quan trọng, nhưng
một số GV vẫn còn coi nhẹ, bỏ qua yếu tố này. Chúng tôi trong quá trình
giảng dạy luôn lưu ý học sinh tìm hiểu ý nghĩa nhan đề của tác phẩm. Đây
là một cách hay để tạo sự chú ý, kích thích hứng thú của các em. Đối
với những nhan đề đặc sắc, có ý nghĩa bao quát chủ đề của tác phẩm như
“Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh” của Nguyễn Khuyến, “Tắt đèn” của Ngô Tất
Tố, “Đôi mắt” của Nam Cao, “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu,
“Bác ơi!” của Tố Hữu..chúng tôi luôn dành một lượng thời gian thích
đáng để hướng dẫn học sinh giải mã. Ngay cả những nhan đề có vẻ bình
thường như “Tấm Cám” (truyện cổ tích), chúng tôi cũng tìm ra được thông
tin có ý nghĩa. Ví dụ: Tại sao tác giả dân gian lại đặt nhan đề là
“Tấm-Cám” chứ không đặt nhan đề “Tấm-Dì ghẻ”? (vì xung đột chủ yếu của
tác phẩm là xung đột giữa Tấm và Cám, chứ không phải là Tấm và dì ghẻ);
rồi tên Tấm và Cám có ý nghĩa gì? (là cách đặt tên con cái phổ biến của
người xưa, đặt tên theo những vật dụng bình thường trong cuộc sống-“cái
kèo cái cột thành tên”; tấm và cám đều là sản phẩm từ hạt lúa, hàm ý một người cha sinh ra, song lại khác nhau về chất: tấm đáng quý hơn cám…
Như vậy, chỉ một nhan đề có vẻ bình thường đã gợi mở ra bao điều thú vị, sâu sắc.
“Vợ chồng A Phủ” (Tô Hoài) cũng là một nhan đề có vẻ bình thường.
Song thực ra không phải là không có gì để khai thác: Mị và A Phủ vốn là
những người xa lạ, nhưng do một cảnh ngộ đặc biệt, họ đã đến với nhau và
trở thành “Vợ chồng A Phủ”, quá trình trở thành “vợ chồng” của họ là
một sự vươn lên từ bóng tối đến ánh sáng; hoàn cảnh đen tối dưới ách áp
bức của thống lý Pá Tra khiến họ thành vợ chồng, song chỉ có cách mạng
mới đem lại hạnh phúc bền vững cho họ; điều ấy lí giải vì sao cặp vợ
chồng ấy đến với cách mạng và trung kiên với cách mạng.
Với tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường,
người đọc đã mê ngay từ cái nhan đề. Đó là một nỗi niềm, một sự vương
vấn, một cảm xúc bâng khuâng…mang một vẻ đẹp đầy chất thơ. Với nỗi niềm
mê say ấy, tác giả đã dẫn dắt người đọc đi đến tận cùng của tri thức văn
hóa và thẩm mĩ đã tạo nên dòng sông Hương, cái nôi của văn hóa Huế.
“Vợ nhặt” cũng là một nhan đề độc đáo. “Vợ nhặt” nghĩa là gì? Sao tác
giả không gọi là “Nhặt vợ”? Cái khác biệt là ở chỗ: “nhặt vợ” là một
động từ, còn “vợ nhặt” là một danh từ, chỉ một “loại” vợ (bên cạnh các
“loại” vợ khác như: vợ đẹp, vợ trẻ, vợ ở quê…chẳng hạn). Và đọc xong tác phẩm, người đọc mới thấy hết được tính chất vừa hài hước, vừa xót xa, bi thảm trong cái nhan đề ấy.
Ngay cả cách viết của tác giả đối với từng nhan đề cũng cần được lưu
ý. Ví dụ Nguyễn Tuân đã viết hoa chữ “Sông” trong tác phẩm “Người lái đò
Sông Đà”, bởi vì theo cách nhìn của ông, sông Đà không chỉ là một con
sông bình thường mà đã trở thành một “nhân vật” đặc biệt, có cá tính,
phẩm cách riêng; và trong tác phẩm, nhà văn đã nhiều lần sử dụng thủ
pháp nhân hóa để xây dựng hình tượng. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm cũng đã
viết hoa chữ “Đất Nước”, thể hiện hàm ý tôn kính Tổ quốc thiêng liêng.
Đối với những tác phẩm thơ có nhan đề là “Vô đề (“Không đề”) cũng không
có nghĩa là không có gì để nói. Thực ra đây là một thủ pháp dùng cái
“không” để diễn tả cái “có”, cái vô cùng, một thủ pháp gợi mở tâm tư…Mặt
khác nhan đề kiểu này thể hiện tình huống sáng tạo ngẫu nhiên, tức cảnh
sinh tình, cũng là một tín hiệu rất đáng lưu ý.
Nhan đề tác phẩm cũng phản ánh quan niệm văn hóa, tư tưởng của mỗi
thời. Tác phẩm văn học trung đại thường có nhan đề thể hiện thể loại đặc
điểm thể loại: “Hịch tướng sĩ văn” (Trần Quốc Tuấn), “Bình Ngô đại cáo” (Nguyễn Trãi), “Long thành cầm giả ca” (Nguyễn Du), “Tỳ bà hành”
(Bạch Cư Dị)…Có nhiều tác phẩm có chung một nhan đề như “Cảm hoài”,
“Thuật hoài” (đều có nghĩa là “tỏ lòng’’), thể hiện tính chất “phi ngã”,
“vô ngã” của thi pháp văn học trung đại. Đến thời Thơ mới lãng mạn,
nhan đề tác phẩm thể hiện dấu ấn cái Tôi rất rõ nét. Nhiều người đã phân
tích chữ “đây” trong các tác phẩm “Đây thôn Vĩ Giạ” của Hàn Mặc Tử và
“Đây mùa thu tới” thể hiện cảm hứng mời gọi, dâng hiến, khát vọng giao
cảm mãnh liệt…
Đối với trường hợp “Truyện Kiều” của Nguyễn Du cũng rất đáng chú ý về
phương diện nhan đề. Tiểu thuyết của Thanh Tâm Tài Nhân có nhan đề là
“Kim Vân Kiều truyện” (truyện về Kim Trọng-Thúy Vân-Thúy Kiều, bị cụ Ngô
Đức Kế cho là kém), Nguyễn Du lại đặt cho tác phẩm lục bát thuần Việt
của mình một nhan đề Hán Việt là “Đoạn trường tân thanh” (Tiếng kêu mới
về những nỗi đau đớn như đứt ruột) nghe rất văn chương, “mùi mẫn”, thể
hiện tập trung chủ đề của tác phẩm (Tố Như ơi lệ chảy quanh thân Kiều-Tố
Hữu). Một số bản in vẫn lấy nhan đề của Thanh Tâm Tài Nhân. Thế nhưng
người dân đã gọi tác phẩm theo một cách khác, rất giản dị là “Truyện
Kiều”, hay gọi theo kiểu tối giản là “Kiều” (ngâm Kiều, lẩy Kiều, mê Kiều…)
nghĩa là câu chuyện về nàng Kiều, về cô Thúy Kiều, nhân vật trung tâm,
sự thể hiện sinh động của một “kiếp đoạn trường”. Hầu như mọi người Việt
Nam đều biết đến “Truyện Kiều”, thuộc một vài câu Kiều, nhưng
những người biết tác phẩm còn có một cái tên “gốc” Hán Việt khác, rất
“kêu” là “Đoạn trường tân thanh” thì không nhiều. Đây là một trường hợp
“vi phạm bản quyền nghiêm trọng”, song có lẽ mọi nhà văn đều muốn tác
phẩm của mình bị “vi phạm” như vậy. Bởi với cách “thay bậc đổi ngôi” ấy,
tác phẩm của Nguyễn Du đã bất tử trong lòng nhân dân.
Trong một số trường hợp, nếu không chú ý đúng mức đến nhan đề sẽ dẫn
đến những ngộ nhận không đáng có về nội dung tác phẩm. Ví dụ, tác giả
SGK Ngữ văn 12 đã khái quát nhân vật bà Hiền trong truyện ngắn “Một
người Hà Nội” của Nguyễn Khải thành một nhân vật tiêu biểu cho Hà Nội
ngàn năm văn hiến. Nhưng theo chúng tôi, đó chưa hẳn đã là chủ ý của nhà
văn, bởi vì chính nhà văn đã thể hiện quan điểm tiếp cận của mình ở
nhan đề “Một người Hà Nội”-một góc nhìn mang tính cá nhân, để suy tư,
chiêm nghiệm về một con người bình thường của Hà Nội đã đi qua những
chặng thăng trầm của lịch sử đất nước. Rõ ràng với nhan đề ấy, nhà văn
không muốn xây dựng nhân vật theo kiểu “điển hình”, “người tốt việc
tốt”, trở thành đại diện tiêu biểu cho một cái rất to tát và thiêng
liêng là bản sắc văn hóa của thủ đô ngàn năm văn hiến.
Các đồng nghiệp hãy cùng học sinh bắt đầu khám phá thế giới nghệ
thuật của tác phẩm bằng việc tìm hiểu ý nghĩa nhan đề, có biết bao nhiêu
điều thú vị đang chờ đợi.
Hiển thị các bài đăng có nhãn GIA SƯ VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GIA SƯ VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Ba, 1 tháng 7, 2014
Các bước giúp học tốt môn văn
Nhiều bạn cho rằng môn Văn là bộ môn “gây mê” nhanh chóng nhất, khó nuốt
nhất. Thế nhưng môn Văn có thật sự đáng sợ như vậy không? Hãy biến mỗi
tiết Văn trở thành những tiết học thú vị nhé!
1. Đọc truyện ngắn, tiểu thuyết
Đây là cách học hỏi tốt nhất để các bạn có một bài văn hay và sâu sắc. Đọc nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết không những giúp chúng ta hiểu từ ngữ tiếng Việt mà còn giúp rèn luyện khả năng sáng tạo và trí tượng tưởng trong môn Văn. Hiện nay, khi ra nhà sách không chỉ có các tác phẩm trong nước mà các tác phẩm kinh điển của nước ngoài cũng được bày bán càng hỗ trợ cho các bạn có thêm kinh nghiệm trong lối viết văn của mình.
1. Đọc truyện ngắn, tiểu thuyết
Đây là cách học hỏi tốt nhất để các bạn có một bài văn hay và sâu sắc. Đọc nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết không những giúp chúng ta hiểu từ ngữ tiếng Việt mà còn giúp rèn luyện khả năng sáng tạo và trí tượng tưởng trong môn Văn. Hiện nay, khi ra nhà sách không chỉ có các tác phẩm trong nước mà các tác phẩm kinh điển của nước ngoài cũng được bày bán càng hỗ trợ cho các bạn có thêm kinh nghiệm trong lối viết văn của mình.
2. Khảo sát thực tế
Nguồn cảm hứng văn học lúc nào cũng từ thực tế đời sống. Cố gắng quan
sát những cử chỉ, hành động và sự việc xảy ra xung quanh chúng ta, bạn
sẽ nhận rõ những ý tưởng cần thiết trong bài văn của mình. Nhất là về
khoảng văn nghị luận, thuyết minh và chứng minh thì các bạn càng cần
phải trau dồi vốn kiến thức sâu rộng bên ngoài rất nhiều. Bạn Tú (lớp 9
trường THCS Lê Văn Tám) bộc bạch kinh nghiệm: “Mỗi lần không có ý tưởng
để làm bài, mình thường ra công viên gần nhà ngồi quan sát hoạt động của
mọi người xung quanh. Thế là từ ngữ ở đâu cứ vào trong đầu mình!”
3. Biến tiết học Văn trở nên thú vị
3. Biến tiết học Văn trở nên thú vị
Tiết Văn chán ư? Không hề! Hãy “hô biến” tiết Văn trở thành một tiết học
lý thú bằng cách tạo dựng các nhóm thi đua với nhau, cùng nhau xây dựng
bài học. Các bạn có thể thể hiện diễn xuất, giọng kể của mình qua các
văn bản được học trên lớp. Môn Văn trở nên dễ nuốt hơn bao giờ hết vì
chính các bạn đã tạo bầu không khí vui vẻ cho tiết văn.
4. Soạn bài trước ở nhà
4. Soạn bài trước ở nhà
Việc soạn bài ở nhà cũng rất quan trọng vì khi đó các bạn đã đọc bài và
tham khảo trước. Khi vào lớp, mọi câu hỏi được đặt ra, bạn đều có thể dễ
dàng trả lời và dễ dàng trở thành “ngôi sao” của tiết học Văn hôm đó.
5. Nghỉ ngơi
5. Nghỉ ngơi
Học Văn luôn kèm theo đó là sự nghỉ ngơi, chỉ khi được nghỉ ngơi thư
giãn thật sự thì bạn mới có thể học tốt hơn, nhớ bài lâu hơn và sự sáng
tạo phong phú hơn. Nghỉ ngơi sau khi học không chỉ giúp bạn nạp thêm
năng lượng để tiếp tục chiến đấu môn Văn mà còn cho các môn học khác
nữa.
6. Nghe thầy cô giảng
6. Nghe thầy cô giảng
Tập trung chú ý nghe thầy cô giảng bài cũng là một cách hữu ích giúp
chúng mình học giỏi môn Văn hơn đấy! Chăm chú nghe giảng sẽ học được
nhiều điều hay từ thầy cô mà cũng có khi thấy học trò chăm chú lại càng
giúp thầy cô thêm hứng thú để truyền đạt các kiến thức mà mình có nữa
đấy. Nam (lớp 10 trường GV) tâm sự: “Nhớ năm trước lớp mình không thích
nghe cô giảng bài nên thường làm chuyện riêng trong lớp. Thế là cô nản
chẳng muốn dạy, kết quả môn văn học kì 1 chẳng có bạn nào được điểm cao.
Đến học kì 2 thì đứa nào đứa nấy cuống cuồng đi tìm cô để xin lỗi và
nghiêm túc nghe giảng trong lớp. Cuối cùng tốt nghiệp đứa nào cũng điểm
môn Văn cao”.
Môn Văn học cực dễ đối với các bạn bẩm sinh đã yêu Văn, nhưng nếu hiểu và cần cù học hỏi thì bỗng dưng các tiết Văn trở nên dễ dàng, thú vị đối với những bạn sợ nó. Môn Văn giúp cho chúng mình có chút lãng mạn, chút ngây thơ và chút hồn nhiên trong cuộc sống và còn kích thích óc sáng tạo, trí tượng tưởng. Các bạn đã thấy Văn cực dễ chưa?
Môn Văn học cực dễ đối với các bạn bẩm sinh đã yêu Văn, nhưng nếu hiểu và cần cù học hỏi thì bỗng dưng các tiết Văn trở nên dễ dàng, thú vị đối với những bạn sợ nó. Môn Văn giúp cho chúng mình có chút lãng mạn, chút ngây thơ và chút hồn nhiên trong cuộc sống và còn kích thích óc sáng tạo, trí tượng tưởng. Các bạn đã thấy Văn cực dễ chưa?
Thứ Sáu, 4 tháng 4, 2014
Điển Tích trong Truyện Kiều
Truyện Kiều đối với người Việt Nam chẳng lạ lẫm gì, dân gian ta có câu:
Làm trai biết đánh tổ tôm,
Uống trà Mạn Hảo, ngâm nôm Thuý Kiều.
Truyện Kiều hay, đó là 1 sự thật không thể chối cãi, thế nhưng để hiểu được cái hay, cái thâm thuý của nó thì không thể chỉ đọc lướt qua như cưỡi ngựa xem hoa được, mà chúng ta nên tìm hiểu thêm cả những điển tích, điển cố trong đó nữa. Vì lí do đó, mình post chủ đề này lên, nếu có gì sai sót, nhờ các bạn giúp đỡ < và thank nhiệt tình nhá >
Trước hết, nếu bạn chưa có 1 cuốn truyện Kiều thì có thể vào đây down về tham khảo : Truyện Kiều (Nguyễn Du)
Lady first, điển tích về phụ nữ trước nhé:
Ả Lý - Nàng Oanh.
Trích từ câu :
Dâng thư đã thẹn nàng Oanh
Lại thua ả Lý bán mình hay sao ?
Nàng oanh
Đời nhà Hán có Thuần Vu Ý làm quan đất tề ; nhà không có con trai, chỉ sinh được 5 con gái, Đề Oanh là gái út.
Thuần Vu Ý mắc tội lớn phải thọ hình. Khi bắt giải tử tội về kinh , Đề Oanh đi theo cha. Đến kinh thành, nàng dâng thư lên Hán Văn Đế tâu rằng, nếu cha chết đi, cũng không mảy may đền được chút tội; nay thân gái này khẩn thiết xin vua được cho vào cung làm cung nhân thô (người làm sạch sẽ cho vua sau mỗi lần vua đi vệ sinh), để chuộc tội một phần nào cho cha. Hán Văn Đế đọc thư của nàng Oanh, cảm động vì lòng hiếu hạnh của nàng nên tha tội cho Thuần Vu Ý.
Ả Lý
Thời Hán Vũ Đế, ở quận Mân Trung đất Đông Việt., trong một cái hang sâu có con rắn khổng lồ; dân chúng trong vùng rất kinh hãi, gọi là thần rắn. Hàng năm phải cung cho thần rắn một người con gái đồng trinh thì dân mới yên ổn làm ăn. Nhưng dần cũng hết, tìm đâu ra con gái\.
Bấy giờ ở huyện Tương Lạc, có nàng Lý Ký, nhà nghèo xơ xác, cả cha mẹ đều bệnh năng không tiền thuốc thang. Nàng Lý đã trốn cha mẹ, đến cửa quan tự nguyện bán mình nộp mạng cho rắn, rồi nhờ chuyển tiền về cho cha mẹ.
Nàng xin quan lệnh ban cho một cây gươm bén và một con chó dữ. Vào bên trong hang, nàng thả chó dữ ra chiến đấu với rắn, và dùng gươm chém rắn từng khúc.
Dư Thiện là cháu lâu đời của Việt Câu Tiễn được Hán Vũ Đế phong vương ở đất Đông Việt. Biết được chuyện người con gái hiếu thảo, can trường, Đông Việt vương đã đón ả Lý về làm vợ.
Ả Tạ- Nàng Ban
Khen tài nhả ngọc phun châu
Nàng Ban, Ả Tạ cũng đâu thế này
Nàng Ban
Ban Chiêu tự là Huê Cơ là người đàn bà hay chữ đời Đông Hán. Năm mười lăm tuổi Ban Chiêu đã biết làm thơ và làu thông Tứ Thư, Ngũ kinh. Lấy chồng là Tào Thế Thức, một danh nho của Đông Hán. Sống chung được mười năm thì Tào Thế Thức qua đời vì bệnh; Ban Chiêu thủ tiết thờ chồng.
Đời vua Hoà Đế, Ban Chiêu được triệu vào cung để dạy học cho các hoàng tử và các phi tần. Lúc bấy giờ cha của bà là Ban Bưu đang tại chức Đông các đại học sĩ, chịu trách nhiệm soạn thảo bộ Hán Thư. Công việc đang còn dang dở thì ông qua đời. Anh của ban Chiêu là Ban Cố được nhà vua chỉ định tiếp tục công trình của cha. Nhưng chẳng bao lâu, Ban Cố cũng qua đời vì bạo bệnh, trong khi bộ Hán thư vẫn chưa xong. Ban Chiêu tâu với vua cho bà được tiếp nối công trình. Vua Hòa đế chấp thuận và bà được sung vào Đông các tàng thư tiếp tục soạn bộ Hán thư cho đến hoàn tất.
Trong thời gian ở Đông các tàng thư, Ban Chiêu đã trước tác tập Nữ Giới, gồm bảy thiên. Từ đó lẫy lững tài danh Ban Chiêu.
Ả Tạ
Ả Tạ là Tạ Đào Uẩn, con gái quan Thái úy Tạ Công đời nhà Tấn, có nhan sắc tuyệt trần lại thông minh nhất mực. thơ phú hay lừng tiếng.
Trong cùng một vùng, có họ Vương cũng dòng giỏi gia phong, con cháu cũng thuộc vào bậc vọng tộc. Họ Tạ và họ Vương bắt thông gia với nhau, con trai con gái hai họ chỉ kết duyên vói nhau, không lấy người ngoài họ.
Tạ Đạo Uẩn lúc nhỏ đã thông minh, học rộng lại có tài biện luận. Nhân một hôm về mùa đông, tuyết rơi lả tả, chú của Tạ Đạo Uẩn là Tạ An ngồi uống rượu nóng có cả hai cháu là Tạ Lãng và Đạo Uẩn ngồi hầu bên. Tạ An liền chỉ tuyết, hỏi: - Tuyết rơi giống cái gì nhỉ?
Tạ Lãng đáp: - Muối trắng ném giữa trời.
Tạ Đạo Uẩn bảo: - Thế mà chưa bằng "Gió thổi tung tơ liễu
Tạ An khen Tạ Đạo Uẩn là thông minh, nhiều ý hay, tư tưởng đẹp. Ông lại thường chỉ Đạo Uẩn mà bảo các con cháu rằng: - Nếu là trai, Tạ Đạo Uẩn sẽ là bực công khanh.
Tạ Đạo Uẩn sau kết duyên với Vương Ngưng Chi, một nhà nho lỗi lạc đương thời.
Làm vợ họ Vương, Tạ Đạo Uẩn thường thay chồng tiếp khách văn chương, đàm luận thi phú. Nàng tỏ ra là người hoạt bát, thông suốt nhiều vấn đề, lập luận vững chắc làm nhiều tay danh sĩ đương thời phải phục.
Em chồng của Tạ Đạo Uẩn là Vương Thiếu Chi. Người học giỏi nhưng lập luận kém cỏi, thiếu hoạt bát nên trong khi biện luận thường bị khách áp đảo. Tạ Đạo Uẩn sợ em chồng mất giá trị nên bảo thị tỳ thưa với Thiếu Chi làm một cái màn che lại, nàng sẽ ngồi sau để nhắc Thiếu Chi trong khi biện luận với khách.
Thiếu Chi nhờ đó mà khuất phục được khách và nổi danh, được nhiều người kính phục.
Nàng Ban, ả Tạ là hai người phụ nữ có tài danh về thi phú văn chương. Về sau, các nhà văn học thường dùng tiếng "nàng Ban, ả Tạ" để chỉ người phụ nữ tài giỏi, có danh tiếng về văn chương thi phú.
Gặp cơn bình địa ba đào
Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.
Tích truyện :
Triều Huệ Đế đời nhà Minh, tại huyện Tề Hàng, tỉnh Sơn Nam, có hai vợ chồng Trần Hoá Chiêu, Lương Tiểu Ngạ Tiểu Nga là con một gia đình thúc nho lễ giáo, nổi tiếng là một trang quốc sắc thiên hương; thuở nhỏ được cha mẹ cho theo đòi bút nghiên, mười hai tuổi đã biết làm thơ phú, đọc thông các sách thánh hiền. Hoá Chiêu là học trò của cha Tiểu Nga; cậu học trò nghèo, mồ côi cha, thông minh, ham học, mặt mày khôi ngô, được thầy thương, gả con gái và cho ở rể. Sống chung với nhau được ba năm, thì bố mẹ vơ, lần lượt qua đời, để lại cho vợ chồng một căn phố và ít vốn liéng để mở một tiệm tạp hóa.
Đời sống cũng được êm đềm. Trong vùng, các văn nhân thỉnh thoảng đến mua hàng và cùng vợ chồng Trần Hóa Chiêu xướng họa ngâm thơ. Cũng không ít khách lai vãng thường xuyên đến đó vờ vĩnh mua hàng, để được dịp chiêm ngưỡng dung nhan Tiểu Nga; có phú hộ Trát Hiếu Sắc cũng thuộc loại khách này.
Nhưng không như những mối tình câm kia, đến nhìn để rồi thầm yêu trộm nhớ, Hiiếu Sắc đã manh tâm chiếm hữu người đàn ba này cho được. Phú hộ tìm hiểu, biết vợ chồng vì ham thích thơ văn , nên buông lỏng chuyện mua bán, vốn liếng cụt dần. Phú hộ ra tay hào hiệp, cho mượn vàng bạc để gầy dựng lại. Ngại ngùng lần đầu, nhưng rồi tiếp những lần sau, Hoá Chiêu cầm vàng bạc mượn đi buôn bán xa, chuyến nào cũng lời khẫm. Lần nào, vợ chồng cũng nài nỉ hoàn lại vốn và trả lời, nhưng Hiếu Săc đều từ chối lấy lãi.
Cứ vậy, hai năm họ trở thành bạn thâm giao. Hiếu Sắc luôn tỏ ra mình là người đàng hoàng, nghiêm túc, không bao giờ đến nhà bạn trong lúc vắng mặt Hoá Chiêu; những lúc tiếp chuyện với Lương Tiểu Nga, luôn luôn giữ thái độ đứng đắn. Vợ chồng Hoá Chiêu vui mừng có được người bạn hiền, hào phóng. Khi tự xét lý lịch "nằm vùng" của mình đã đến lúc kết nạp được, Hiếu Sắc đề nghị chung vốn làm ăn lớn. Vợ chồng Hóa Chiêu hoàn toàn tin tưởng, hớn hở nhận lời ngay.
Việc buôn bán phất lên nhanh, nhưng Hiếu Sắc vẫn cương quyết không bao giờ nhận chia lãi, nại lý do để giúp vợ chồng bạn.
Một lần, Hiếu Sắc bàn với Hóa Chiêu phải đi buôn một chuyến lớn ở Hàng Châu xa xôi và thuê thuyền xong, cả hai cùng lên đường. Ròng rã cả tháng trời thuyền mới đến Hàng Châu vào một đêm trăng thanh gió mát. Hai người đem rượu ra mũi thuyền đối ẩm tâm sự Hoá Chiêu, tình thật, ngâm một câu thơ, lại ngậm một chén rượu ; Hiếu Sắc thì cứ làm động tác giả, hắt rượu qua vai. Quá nửa đêm, Hoá Chiêu rụng, người mềm nhũn. Lúc bấy giờđám gia nhân dưới thuyền cũng đã ngủ saỵ Hiếu Sắc lôi Hóa Chiêu, xô xuống sông. Đôi ba lần Hoá Chiêu ngoai ngóp trồi đầu lên, Hiếu Sắc lại dùng sào dìm xuống cho đến khi mặt nước không còn sủi bọt nữa.
Không cần phải buôn bán chi, Hiếu Sắc cho thuyền quay về Tề Hàng ngay. Mẹ Hoá Chiêu và Tiểu Nga đau lòng với nỗi bất hạnh, nhưng vần cảm kích Hiếu Sắc đã bỏ cả chuyến hàng lớn để vội vàng trở về báo hung tin.
Rồi sau đó, đều đều, Hiếu Sắc lui tới thăm viếng và cấp dưỡng cho mẹ Hoá Chiêu và cô vợ góa trẻ. Và lần nào nước mắt phú hộ hào phóng cũng đầm đìa.
Người đời càng nể trọng hơn khi thấy Hiếu Sắc ân cần chăm sóc mẹ của Hoá Chiêu chu đáo hơn vợ bạn, khiến mẹ già cũng có phần đăm chiêu
Ba năm sau, mãn tang. Hiếu Sắc cho người đến thưa chuyện với mẹ Hóa Chiêu xin cưới Tiểu Nga lam vợ. Bà mẹ đã đăm chiêu nhiều, nên thuận tình ngay, khuyên nhủ con dâu nên bước thêm bước nữa.
Lương Tiểu Nga vốn là gái hiền thục, vẫn còn thương yêu người chồng vắn số, nhưng vẫn phải vâng lời mẹ chồng, tái giá.
Cưới được Lương Tiểu Nga rồi, Hiếu Sắc vẫn một mực chăm sóc mẹ Hoá Chiêu; bà cũng an lòng nghĩ rằng con dâu mình có được bóng mát cho cuộc đời còn lại.
Vợ chồng ăn ở vơi nhau được mười năm, sinh được hai mụn con. Đời sống an nhàn. Một đêm trăng vào hạ, vợ chồng ra ngồi hóng mát bên ao sen. Hiếu Sắc nhấm rượu, và ngấm rượu; Đương lúc đó, có con ếch nhảy lên một lá sen. Tiểu Nga đưa cây sào thọc cho con ếch nhảy đi. Sào thọc xuống thì con ếch lặn, cất sào lên, nó lại trồi lên. Tiểu Nga phải thọc vào con ếch mấy lần nữa, nó mới chịu lặn chìm mất.
Bất giác, Hiếu Sắc buột miệng ngâm:
"Hồi ức thập tam niên tiền sự
Huyên tợ hà mô lục thủy thờị.
Nhớ chuyện mươi ba năm trước đây
Mường tượng ngày nay ếch ngóp ngoai
Nghe lời thơ lạ, Tiểu Nga bảo chồng lập lại để mình họa theo. Hiếu Sắc lè nhè đọc lại rồi cao hứng nói vợ lấy giấy bút cho mình chép lại làm thủ bút. Thôi rồi, kẻ hào hiệp chung chăn gối với mình mười năm nay, thì ra là một kẻ nham hiểm thâm độc.
Không thể để cho Hoá Chiêu chết oan, Tiểu Nga đã nắ lấy vật chứng là hai câu thơ thủ bút của Hiều Sắc, đem đi trình quan.
Bị bắt tra vấn, Hiếu Sắc khai hết sự thật câu chuyện hơn mười ba năm trước, vì đã cuồng si nhan sắc của Lương Tiểu Nga nên đóng trò đạo đức, rồi bày mưu giết chồng đoạt vợ Trát Hiếu Sắc bị xử tội tử hình.
Đúng là sắc bất ba đào dị nịch nhân, nhan sắc đâu phải là sóng lớn mà cũng dìm chết người, hai người chồng đều phải tức tưởi lìa đời.
Sắc đẹp là tội lỗi, nàng đã đến công đường, xin xử tội cái nhan săc nàỵ Nhưng luật pháp có bao giờ lại tử hình một hồng nhan. Có chăng thì lạ gì bỉ sắc tư phong, hồng nhan phải tự mang lấy cái nghiệp chướng đa truân.
Bảy chữ - Tám nghề
Này con thuộc lấy làm lòng
Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề
Chơi cho liễu chán hoa chê
Cho lăn lóc đá cho mê mẩn đời
Khi khóe hạnh, lúc nét ngài
Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa
Tích truyện :
Theo truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc):
Tú bà hỏi Kiều: Tiếp khách thế nào mới lưu được khách?.
Kiều trả lời: ngủ với ngươì ta chớ gì?;
Tú bà giẫy nẫy: con này mới ngu làm sao ! Nếu con gái nhà thổ cũng như con gái nhà lương gia thì ai buồn chơi. Nghề chơi ở trong còn lắm điều hay, khi khách lên giường, thì mày nhường khách nằm trong, mày nằm ngoài, ngoảnh mặt lại chầu khách; tay khách tất sờ vào mình mày, mày phải sờ hạ thể khách..
Bảy chữ vành ngoaì là:
1. Khốc: khóc lóc giả bộ thương yêu, khách quyến luyến không rời được
2. Tiễn: cắt tóc mày và tóc khách, se vào nhau; mỗi người buộc vào cánh tay như thề nguyện kết tóc se tơ.
3. Thích : khi đã thỏa thê tình dục rồi, lấy kim chích tên của khách lên cánh tay hay đùi mày, lấy mực xoa vàọ Khách sẽ trút hết tiền vì nghĩ rằng mày đã chết mê chết mệt nó, mới xăm tên nó lên thân thể mày như vậỵ Khách sau đến, trông thấy ắt phải nghĩ rằng: không biết người đi trước đãi mày thế nào mà mày yêu đến thế. Tất nhiên sau đó sẽ hậu đãi mày để được lòng mày, yêu hơn người trước. Nhân thể phải biết chau mày, nói: khách đi trước đã tiêu phí không biết bao nhiêu tiền mới được lạc thú tuyệt đỉnh, do đó mới xăm tên, nay muốn được thích thú hơn, tất nhiên phải quăng tiền cho mày.
4. Thiêu: là khổ nhục kế, hai đứa đều chích máu trong người ra để thề, phỏng gặp thằng ngu, mày cùng nó đốt huơng thề, như thế thì nó táng gia bại sản cũng đáng đời.
5. Giá: dùng mẹo để lừa, cứ như mong được làm vợ, suốt ngày chỉ nói chuyện mơ ước về nhà chồng và các điều thề thốt. Hễ nó đã mê, tự nhiên bỏ của ra; tiền đã hết rồi, nó muốn cưới, mày giả đau không dậy, thế thì chẳng phải đợi mày đuổi, nó tự động cũng cút xéo.
6. Tẩu: khách chơi đã hết của, mày phải đuổi nó ra khỏi cửạ Nếu nó vẫn đeo, thì vờ hẹn nó đến một nơi nào đó, rồi nắm áo lại, dọa sẽ tri hô lên cho quan đến bắt kẻ lưu manh có ý cưỡng bức màỵ Tự khắc nó phải bỏ mày.
7. Tử: dẫu biết nó có vợ có hầu, mày vẫn thế thốt sống chết nếu không được sống chung thì tự vẫn; vậy nó có tiêu pha hết của cho mày thì cũng phải.
Bảy chữ mới chỉ là mánh khóe bên ngoài để dụ dỗ khách. Còn khi hành lạc, thì vành trong phải đủ tám nghề:
1. Với khách có hạ thân nhỏ thì dùng phép "đánh trống giục hoa" (kích cổ thôi hoa).
2. Với khách có hạ thân lớn thì dùng phép "sen vàng khóa xiết" (kim liên song tỏa).
3. Nếu khách hối hả, lụp chụp thì dùng phép "mở cờ đánh trống" (đại chiến kỳ cổ)
4. Nếu khách khoan thai thì dùng phép "đánh chậm gõ sẽ" (mạn đả khinh sao)
5. Với người mới " vỡ lòng "thì dùng phép "ba bậc đổi thế" (khẩn thuyên tam trật).
6. Gặp khách sành sỏi thì dùng phép "tỏa tâm truy hồn"
7. Gặp khách tay ngang tì dùng phép "tả chi hữu chì"
8. Đối với khách đam mê nhan sắc thì dùng phép "dềnh dàng hớp vía" (nhiếp thần phiến tỏa).
Băng nhân
Sự lòng ngỏ với băng nhân
Tin sương đồn đại, xa gần xôn xao
Tích truyện :
Văn nhân Linh Hồ Sách nằm mơ thấy mình đứng trên băng tuyết nói chuyện với một người lạ nằm dưới băng tuyết. Linh Hồ Sách đem chuyện năm mơ của mình thuật lại cho Sách Thẩm, một người rất giỏi về thuật số. Sách Thẩm giải mộng:
- Băng thượng nhân ngữ băng hạ nhân, tức là dương nói chuyện với âm. Điềm này tất có chuyện mai mối đây. Vậy nếu có ai nhờ tiên sinh se duyên, thì cứ nhận lời. Đến khi băng tan, thì lương duyên thành.
Mấy hôm saụ Linh Hồ Sách đưọc Điền Báo nhờ làm mối lái xin hỏi cưới con gái của Trương Công Vị. Linh Hồ Sách nhận làm mai và được Trương Công Vi đồng ý. Quả đúng, đến mùa xuân, khi băng tan hết thì hôn lễ của Điền Báo với con gái Trương Công Vi được cử hành.
Bố Kinh
Đã cho vào bậc Bố kinh
Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu
Tích truyện :
ố kinh là hai chữ thu ngắn, Bố quần là chiếc quần bằng vải, kinh thoa là cái trâm cài đầu bằng gaị Bố kinh lấy từ chuyện Lương Hồng Mạnh Quang trong sách Di Uyển của Trung Quốc:
Lương Hồng là một hàn sĩ ơ Giang Nam, nhà nghèo xơ xác, hiếu học, trọng đạo đức nhân nghĩạ Nhiều người rất cảm phục nhân cách của chàng , trong đó có một phú hộ thật tâm muốn tìm cách giúp đỡ . Lần đầu tiên tìm đến gặp Lương Hồng, phú hộ muốn tặng chàng hai gói chè quí ngọn hái từ đỉnh núi Vũ Di . Lương Hồng nhẹ nhàng thưa:
- Nếu có gì cần dạy bảo xin ngài vui lòng chỉ giáo, còn lễ vật ngài cho tôi xin được phép từ chối.
Phú hộ đành cầm lễ vật ra về, trong lòng nghĩ hay là chàng nho sĩ kia vì nghĩ phận mình nghèo hèn không dám giao tiếp với người giàu sang như ta. Nghĩ vậy nên ít ngày sau, phú hộ lại tìm đến, chân đi giày cỏ, cẩn thận buộc ngưa từ ngoài xa. Trong lều tranh, Lương Hồng vẫn mải mê đọc sách; phú hộ kiên nhẫn chắp tay đứng đợi ngoài sân. Sau mấy canh giờ, Lương Hồng chợt gấp sách, nhìn ra ngoài, trông thấy vị khách đang đứng chờ. Chàng cung kính mời vào. Lần này phú hộ chỉ xin tặng một gói trà ngang, nhưng bên trong lại có mấy nén vàng, gọi là chút tiền độ nhật cho hàn sĩ. Lương Hồng nhất mực từ chối:
- Nếu ngài có ý coi trọng kẻ hèn nay thìhãy cư xử nhau bằng tình nghĩa; xin bảo trọng tình nghĩa trong sáng này, đừng để lễ vật làm hoen ố đi.
Phú hộ lại phải đem lễ vật về và vẫn không nghĩ ra cách gì để giúp đỡ con ngươì liêm khiết này. Và không những chỉ có phú hộ này, nhiều danh gia khác cũng nghe tiếng thơm Lương Hồng, muốn muốn đem gả ái nữ chọ Trong số này, có nhà họ Mạnh, giòng dõi nho gia, giàu có mấy đời, có tiểu thư Mạnh Quang, sắc nước khuynh thành, vương tôn công tử gần xa đều ngấp nghé. Nhà họ Mạnh chủ động muốn nhận Lương Hồng làm rể. Lương Hồng cũng nghe tiếng gia đình họMạnh tuy giàu có, nhưng nổi tiếng mấy đời lương thiện, nên bằng lòng kết nghĩa trăm năm với nàng Mạnh Quang.
Ngày hợp hôn, Mạnh Quang muốn làm đẹp lòng chồng, trang điểm má phấn tô son, xiêm y lộng lẫy, vàng ngọc sáng ngờị Nào ngờ, trông thấy tân nương rực rỡ như vậy, tân lang lại tiu nghỉu, suốt bảy ngày đêm ủ ê không buồn động phòng hoa chúc. Thoạt đầu, Mạnh Quang đã quá lo âu, không hiểu mình đã lời ăn tiếng nói như thế nào để chàng phải phật ý; cuối cùng thì nàng cũng nghĩ ra và đã vất bỏ hết các xiêm y, trang sức sặc sỡ đó, mà chỉ mặc quần áo vải và đầu cài thoa gai đến bên chồng. Đến đây, Lương Hồng mơi bật lên mừng rỡ, ôm chầm lấy tân nương:
- Đây mới thật là vợ của Lương Hồng. Trong phú quý', giàu sang, thường người ta không giữ được nhân nghĩạ Ta chỉ muốn sống trong thanh bần, tự mình cày ruộng mà ăn, dệt vải mà mặc, cuộc sống đạm bạc nhưng vợ chồng luôn có nhau, tương kính nhau.
Người đời sau lấy chữ Bố kinh trong điển tích này để nói đến các bà vợ hiền thục.
Tố Nga
Đầu lòng hai ả TỐ NGA
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
(Câu 15,16. Giới thiệu chị em Kiều)
Tố NGA:Tố là trắng. Nga là đẹp. Bài Nguyệt phú của Tạ Trang có lời chú: "Thường Nga thiết dược bôn nguyệt; nguyệt sắc bạch, cố vân Tố Nga" (Thường Nga lây trộm thuốc tiên, thoát lên cung trăng; mặt trăng sắc trắng cho nên nói là Tố Nga). "Thần Tiên truyện" chép rằng: Thường Nga là vợ Hậu Nghê.. Hậu Nghệ xin thuốc trường sanh của bà Tây Vương Mẫụ Hậu Nghệ là người tính tình không tốt, hay làm việc phản bạn, Thường Nga khuyên chồng mãi mà không được. Nàng giận thừa cơ uống trộm thuốc tiên và bay lên cung trăng.
Lại có truyền thuyết nói rằng vua Đường Minh Hoàng (tức Đường Huyền Tông) lên chơi nguyệt điện thấy có mười người con gái mặc toàn trắng và cỡi hạc trắng múa hát; cho nên nhà vua dùng chữ Tố Nga để chỉ mặt trăng và cũng để chỉ người con gái đẹp.
Mai cốt cách
Mai cốt cách, tuyết tinh thần.
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
(Câu 17 và 18. Phẩm chất chị em Kiều)
MAI CỐT CÁCH là thân hình mảnh mai, yếu đuối như cây maị Đây là quan niệm của người xưa, người con gái được coi là đẹp phải có thân mình ẻo lả mảnh mai như thế.
Điển hình cho người đẹp "mai cốt cách" là nàng Mai Phi, một người phi sủng ái của vua Đường Huyền Tông khi ông chưa có nàng Dương Quý Phị
Mai Phi tên thận là Giang Thái Tần, chào đời và lớn lên ở Mai Hoa thôn. Nàng được Thái gíam Cao Lực Sĩ tuyển chọn vào cung dâng cho vua Đường Huyền Tông. Nàn có nhan sắc diễm lệ và thân hình mảnh dẻ gió thổi cũng baỵ Hơn nữa, nàng rất yêu thích hoa mai nên được nhà vua đặt là Mai Phị
Vào cung, Mai Phi đã được vua Đường Huyền Tông sủng ái rất mực một thờị Đến khi nhà vua có được Dương Quý Phi thì Mai Phi bị thất sủng. Nàng sầu khổ lâm bệnh và cuối cùng chết đi như một cành hoa mai héo hắt.
Cùng mẫu người "mai cốt cách" như Mai Phi còn có Đào Hoa Nữ trong bài thơ của Thôi Hộ, nàng Thôi Oanh Oanh trong Tây Sương Ký và nàng Lâm Đại Ngọc trong Hồng Lâu Mộng
Loại phụ nữ như thế chỉ là một loại hoa quý để cấm trong bình cho người khác thưởng thức chứ không thể là mẫu người làm vợ lý tưởng được. Tại sao Vì thân thể họ nhuyển nhược, mềm yếu quá có làm nên chuyện gì đâủ Nhất nhất chuyện gì họ cũng đều trông cậy vào người khác mà thôị Và mẫu người như thế thường là "hồng nhan bạc phận", sớm bị yểu vọng chứ không thể trường thọ được.
Khuôn trăng đầy đặn
Vân xem trang trọng khác vời
KHUÔN TRĂNG ĐẦY ĐẶN NÉT NGÀI NỞ NANG
Cổ tướng thư nói: "Diện như mãn nguyệt, mi nhược ngoạ tàm"; nghĩa là mặt như trăng tròn, lông mày như con tằm nằm ngang. Đây là một cách tả ước lệ của người xưa về đoan trang của người phụ nữ.
Cũng sách Cổ tướng thi còn ghi: "Diện như mãn nguyệt, thanh tú nhi thần thái xạ nhân gia vi chi chiêu hà chí diện, nam chủ công hầu tướng, nữ chủ hậu phi phu nhân". (Mặt như trăng rằm thanh tú, tinh thần rực rỡ sáng sủa gọi là cái mặt của ráng trời buổi sớm, con trai công hầu, con gái hậu phi, phu nhân).
Người phụ nữ được cái tướng như thết là tốt, đoan trang hiền thục mà lại phúc hậu; có thể yên tâm là có một cuộc đời an nhàn. Vạn nhất, nếu sống trong một xã hội tao loạn, có vì gia biến hay một hoàn cảnh đặc biệt nào đó mà phải lưu lạc bèo dạt hoa trôi thì cũng chỉ là nhất thời mà thôị Và cuộc sống cũng không quá lao đao lận đận như phần đông ca nhi, kỹ nữ khác.
Câu chuyện sau đây có thể chứng minh được cho điều đó:
Lý Sư Sư là một kỹ nữ danh tiếng ở kinh đô Khai Phong đời vua Tống Huy Tông. Mặt mày đầy đặn phương phi, tánh tình ôn nhu hoài thuận. Tuy là kỹ nữ nhưng rất chững chạc đoan trang.
Khách hàng chơi vặn mặc thảy đều tỏ ý tiếc cho nàng. Ai ai cũng nghĩ có lẽ nàng xuất thân con nhà đường hoàng nhưng vì một hoàn cảnh gì đó mà phải đem thân vào chốn kỹ viện. Do đó, tuy là kỹ nữ nhưng Lý Sư Sư rất được khách hào hoa tôn trọng.
Tiếng tăm nàng đến tai Huy Tông hoàng đế khiến nhà vua trẻ tuổi, đa tình này cũng háo hức muốn gặp nàng. Một hôm Huy Tông Hoàng đế cải dạng thường dân đến kỹ viện tìm nàng.
Lần đầu tiên gặp gỡ, Huy Tông cứ nghĩ rằng Lý Sư Sư cũng chỉ là một kỹ nữ như bao nhiêu kỹ nữ khác nên Hoàng Đế tỏ ra suồng sã với nàng. Lý Sư Sư liền bỏ đi, không tiếp. Nhà vua cho thị vệ chạy theo rỉ tai nàng, bảo cho nàng biết ông chính là đương kim Hoàng Đế. Dù biết là Hoàng Đế nhưng Lý Sư Sư cũng mặc, nhất định không thèm tiếp một người thô tục, có cữ chỉ khiếm nhã. Tống Huy Hoàng đế đành phải chiu thua kỹ nữ Lý Sư Sư và ra về.
Về sau nhà vua phải mất một thời gian khá lâu dài mới chinh phục lại được cảm tình của nàng kỹ nữ họ Lý ấỵ Rồi nhà vua cho triệu nàng vào cung.
Khi nhà Tống bị Mông Cổ xâm lăng, tướng Mông Cổ cho đòi Lý Sư Sư đến hầu rượu, nàng cũng nhất định không nghẹ Để tránh bị ô nhục, Lý Sư Sư bẻ cây trâm cài đầu nuốt vào cổ để tự tận...
Nghiêng Nước, Nghiêng Thành
Một hai NGHIÊNG NƯỚC, NGHIÊNG THÀNH
Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai.
(Câu 27, 28. Tài sắc Thúy Kiều)
"Ví chăng duyên nợ ba sinh
Làm chi những thói KHUYNH THÀNH trêu ngươi!".
(Câu 257, 258. Kim Trọng than thở)
"Lạ cho cái sống KHUYNH THÀNH
Làm cho đổ quán, xiêu đình như chơị"
(Câu 1301, 1302. Thúc Sinh đam mê Kiều)
Nhìn một cái xiêu thành người, nhìn một cái đổ nước ngườị Ý là muốn nói đến cái nhan sắc cực kỳ đẹp khiến người ta say mê đến mất thành mất nước mà cũng không haỵ
Câu này Nguyễn Du dịch lời ca của Lý Diên Niên trong tích Hán Vũ Đế tuyển người đẹp.
Năm Nguyên Sóc, Hán Vũ Đế cho xây dựng đền Minh Quang và kén chọn hai ngàn gái đẹp ở vùng Yên, Triệu đưa vào ở trong đó. Những người đẹp được tuyển chọn này chỉ tuổi từ mười lăm trở lên, nhưng quá ba mươi thì bị thải hồị
Ngoài Đền Minh Quang, Hán Vũ Đế còn nhiều nơi khác để chứa gái đẹp. Tổng cộng số gái đẹp của nhà vua này lên đến một vạn tám ngàn. Ấy mà Hán Vũ Đế vẫn còn cho là thiếu.
Một hôm ca nhân Lý Diên Niên hát cho Hán Vũ Đế nghe rằng:
"Bắc phương hữu giai nhân
Tuyệt thế nhi độc lập.
Nhất cố khuynh nhân thành,
Tái cố khuynh nhân quốc.
Ninh bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc,
Giai nhân nan tái đắc".
(Phương Bắc có người đẹp
Tuyệt vời đứng riêng bậc
Một nhìn, người nghiêng thành
Hai nhìn, người nghiêng nước.
Há rằng chẳng biết nước thành nghiêng,
Chỉ vì người đẹp khó tìm được.)
Hán Vũ Đế bèn hỏi:
- Thế gian có người đẹp đến thế sao ?
Tả hữu thưa:
- Tâu bệ hạ, người đẹp trong bài ca ấy chính là cô em gái của Lý Diên Niên vậỵ
Hán Vũ Đế bèn ra lên cho Lý Diên Niên đưa em gái vào cung. Nhà vua rất sùng ái nàng và bắt cả triều thần phải gọi nàng là Lý phu nhân. Vua lại phong cho Lý Diên Niên từ chức Cẩn Giám lên chức Hiệp Đô Uý.
Lý phu nhân ở với Hán Vũ Đế hơn một năm thì sinh được một con trai, tức là Sương Ấp Vương sau nàỵ
Một thời gian sau Lý phu nhân bị bệnh nă.ng. Hán Vũ Đế tự đến thăm hỏi nhưng không được nàng tiếp. Nàng trùm chăn kín mít và nói với nhà vua:
- Thiếp bị đau nặng đã lâu, hình dung tiều tuỵ lắm, không dám đem cái nhan sắc héo úa ra mắt nhà vuạ Chỉ xin gởi lại nhà một người con trai và mấy người anh em.
Hán Vũ Đế nói:
- Phu nhân bệnh nặng e khó qua, hãy mở chăn nhìn ta mà ký thác con và anh em có phải hơn không?
Lý phu nhân vẫn trùm khăn kín mà nói:
- Theo lễ, đàn bà mặt mũi không sạch, không nên được trông thấy đấn quân phụ
Nhà vua cố nài nỉ:
- Phu nhân hãy ra mắt trẫm một lần này thôi, trẫm sẽ ban cho phu nhân nghìn vàng, cho con và anh em của phu nhân làm quan tọ
Lý phu nhân vẫn một mực khước từ:
- Cho làm quan là quyền ở nhà vua, không do sự ra mắt của thần thiếp.
Nói đoạn, Lý phu nhân quay vào vách, thở dài rồi nín lặng. Hán Vũ Đế cả giận, đứng phắt dậy bước ra ngay, không nói thêm tiếng nàọ
Các người thân thích biết chuyện, đến trách Lý phu nhân rằng:
- Sao quý nhân không mở mặt ra cho đấng quân vương trong thấy, rồi đem con và anh em ký thác có phải hơn không ? Sao làm cho nhà vua tức giận đến thế ?
Lý phu nhân đáp:
- Đàn bà là kẻ lấy nha sắc thờ ngườị Nay nhan sắc đã kém tất nhiên tình yêu phải phai nhạt. Tình yêu đã phai nhạt thì sẽ không còn ân huệ gì nữạ Bấy lâu nhà vua sủng ái ta là chỉ vì ta còn nhan sắc. Nay ta đã ốm nặng, nhan sắc tiều tuỵ, nếu để nhà vua trong thấy thì thử hỏi ngài còn yêu ta như trưỚc nữa không. Dĩ nhiên khi tình yêu không còn thì làm sao ngài còn thương đến anh em ta nữạ Nay ta không ra mắt nhà vua là muốn gởi gấm anh em một cách thiết tha vậỵ
Ít hôm sau Lý phu nhân từ trần. Hán Vũ Đế cho chôn cất nàng rất hậụ Nhà vua lại sai hoạ nhân vẽ ảnh nàng treo trong cung Cam Tuyền để ngày ngày nhìn ngắm. Nhà vua cũng phong cho các anh em của Lý phu nhân làm quan caọ
Hán Vũ Đế ngày đêm thương nhớ Lý phu nhân khôn nguôị Nhà vu sai người đào ao Côn Linh, đóng thuyền hình chim phượng để ở ao ấỵ Ngài tự chế bài hát, lên thuyền đi chơi bắt các cung nhân hát để giải buồn.
Một hôm, ca nhi hát bài "Lá rụng ve kêu" như sau:
"Xuyên vòng im bặt tiếng kêu
Thềm son mấy đợt bụi rêu lờ mờ
Phòng không lạnh ngắt như tờ,
Gió đưa lá rụng phất phơ cửa ngoàị
Bấy lâu tướng háo mong hoài,
Trông ai chẳng thấy, bùi ngùi lòng ta..."
Vũ Đế nghe bài hát càng buồn rầu thêm, sai lấy nến mỡ rồng soi trong khoang thuyền để tìm hình ảnh Lý phu nhân. Rồi ngài ôm mặt khóc nức nở như một đứa trẻ con ...
Tường Đông
Êm đềm trướng rũ, màn che
TƯỜNG ĐÔNG ong bướm đi về mặc ai
(Câu 37, 38. Nề nếp của Thúy Kiều và Thúy Vân)
"Sông hồ cửa khép cánh mây
TƯỜNG ĐÔNG hé mắt, ngày ngày hằng trông."
(Câu 283, 284. Kim Trọng đi tìm Thúy Kiều)
TƯỜNG ĐÔNG nghĩa đen là bức tường ở phía Đông, nghĩa bóng là nơi có gian nhân cư ngụ
Sách Mạnh tử có câu: "Du đông lân nhi lâu kỳ xử tử" (Trèo sang nhà láng giềng ở phía Đông để dụ dỗ con gái nhà người ta). Đường thi cũng có câu: "Đông lân Tống Ngọc tường" là để ám chỉ nơi trai gái giao tình với nhau vì chàng Tống Ngọc (1) người nước Sở thời Chiến quốc là một thanh niên đẹp trai, thơ hay phú giỏi và tánh tình trăng hoa, ong bướm, đã làm cho bao nhiêu người đẹp phải ôm mối hận tình với chàng tạ
Trong một bài phú tự tình gởi lên vua nước Sở, Tống Ngọc có viết:
"Thiên hạ chi giai nhân, mạc nhược Sở quốc
Sở quốc chi lệ giá, mạc nhược thần lý
Thần lý chi mỹ giá, mạc nhược thần đông gia chi tứ"
(Người đẹp trong thiên hạ không đâu bằng nước Sở.
Người đẹp trong nước Sở không đâu bằng ở xóm hạ thần.
Người đẹp trong xóm hạ thần không ai bằng nàng con gái láng giềng ở phía tường đông nhà hạ thần).
Nhà thơ Lý Bạch thời Đường cũng có câu:
"Tự cố hữu tự sắc
Tây Thi do đông lân".
(Từ xưa có nhan sắc
Tây Thi ở xóm đông).
Hai chữ Tường Đông đã có một trang tình sử lâm ly như sau:
Nước Sơ/ có loạn, nhà vua sai đại thần Vương Trung đem binh dẹp loạn. Vì chậm trễ việc quân, Vương Trung không cứu vãn được tình thế nên bị vua giáng chức, làm Thiên hộ vệ quân tại Nam Dương. Vương Trung đem cả gia quyến theo mình đến nhiệm sở mớị
Bấy giờ Vương Trung có người con gái rất đẹp, tên Vương Kiều Loan, chẳng những đẹp mà còn thông mình và rất giỏi văn mặc, cho nên đã tới tuổi cặp kê mà mắt xanh vẫn chưa để ai vàọ Vương Trung có người em gái tên Tào Di sớm bị goá bụa, nên đem về ở chung trong gia đình để sớm hôm bầu bạn với Kiều Loan.
Năm họ vào tiết Thanh Minh, Kiều Loan cùng Tào Di và thi nữ đi ngoạn cảnh bên ngoàị, Khi ra khỏi nhà thì Kiều Loan phát hiện ở phía tường đông có một chàng trai đang nhìn mình đăm đăm không chớp mắt. Đôi mắt của ai kia sao đầy vẻ tình tứ khiến tiểu thư họ
Vương không kihỏi bối rối trong lòng, đôi má ửng hồng e thẹn. Kiều Loan vội núp sau lưng người cô và giục Tào Di trở vào, không muốn đi chơi nữạ
Khi Vương Kiều Loan đã trở về nhà, chàng trai kia thở dài ngẩn ngơ tiếc rẻ. Chợt chàng trông thấy dưới một gốc hoa kia có chiếc khăn the của người đẹp đánh rơi lạị Chàng vội bước đến nhặt chiếc khăn lên, mùi hương còn thoang thoảng. Bỗng chàng nghe bên trong tường vào Vương phủ có tiếng động, rồi có bóng một thiếu nữ hiện rạ Chàng trai vội vàng núp vào một khóm hoa theo dõi bóng người con gáị Thì ra cô gái ấy là một cô hầu của tiểu thư Vương Kiều Loan, đi ra ngoài tìm chiếc khăn của tiểu chủ đánh rơi lúc nãỵ Chàng trai đứng lên và mạnh dạn đánh tiếng:
- Cô nương ơi, đừng tìm kiếm cho mất công., Chiếc khăn của tiểu thư đã vào tay kẻ khác rồị
Cô gái nhìn chàng trai lạ từ đầu đến chân và nhận thấy hàng có vẻ phong lưu tuấn tú, bèn đến gần kính cẩn hỏi:
- Thưa công tử, nếu quả thật công tử đã nhặt được chiếc khăn của tiểu thư tôi, thì dám xin công tử vui lòng cho xin lại Ơn ấy tiểu thư tôi chắc không quên.
Chàng trai không đáp. Cô gái nói tiếp:
- Xin ân nhân cho biết tôn danh để tiểu thư tôi còn tạ ơn
Chàng trai đáp:
- Tôi họ Tống tên Ngọc, người quận Ngô Châu, hiện cư ngụ ngay phía sau tôn phủ. Còn tiểu thư của nàng là ai vậy
- Dạ tiểu thư tôi tên Vương Kiều Loan, con gái của quan Thiên Hộ
Tống Ngọc cười:
- Tên của tiểu thư nàng thật đẹp, thế còn nàng tên gì?
Cô gái e thẹn đáp:
- Dạ, tiện nữ tên gọi Minh Hà.
Tống Ngọc cười, trêu chọc:
- Cả thầy lẫn trò đều đẹp cả. Vậy bây giờ tôi nhờ nàng trao cho tiểu thư Kiều Loan một bức thư có được không ?
Minh Hà ý không muốn nhận, nhưng sợ làm phật lòng Tống Ngọc thì chàng ta không trả lại chiếc khăn cho chủ mình, nên nói:
- Xin vâng, công tử cứ trao thư cho tôị
- Vậy nàng ở đây chờ tôi một chút, tôi sẽ quay trở lại ngaỵ
Tống Ngọc nói xong, quay gót đi liền. Một lúc sau chàng trở lại trao cho Minh Hà một tờ hoa tiên. Minh Hà thấy Tống Ngọc trao thư mà không trả khăn, trong lòng không vui nên nói:
- Công tử không trả khăn mà chỉ gởi thư, tôi không dám nhận đâu
Tống Ngọc cười nói:
- Nàng đừng lọ Nếu tiểu thư chịu phúc đáp thì tức khắc vật sẽ hoàn cố chủ.
Bất đắc dĩ Minh Hà phải nhận tờ hoa tiên của Tống Ngọc và quay vào phủ.
Vương Kiều Loan đang ngồi đợi Minh Hà trong phòng, cảm thấy lòng bồn chồn không yên.
Minh Hà vừa vào tới, Kiều Loan vội hỏi ngay:
- Thế nào, có tìm ra chiếc khăn của ta không?
Minh Hà ấp úng:
- Thưa tiểu thư, chiếc khăn đà lọt vào tay ... chàng công tử nhìn trộm tiểu thư lúc ban chiều rồị
Kiều Loan nghiêm mặt hỏi:
- Tai sao em không đòi lại cho ta ?
- Em có đòi nhưng chàng trai lần khân không chịu trả, lại còn gởi cho tiểu thư tờ hoa tiên này nữạ
Minh Hà vừa nói vừa lấy tờ hoa tiên trao cho Kiều Loan. Vương tiểu thư vừa nhận tờ hoa tiên vừa nói:
- Chàng trai ấy có xưng tên học và nói quê quán ở đâu không?
Minh Hà đáp:
- Chàng ta họ Tống, tên Ngọc, người Ngô quận. Hiện chàng ta cư ngụ sát vách sau phủ đường tạ
Kiều Loan có vẽ xúc động, mở tờ giấy ra xem. Trong tờ hoa tiên có bài thơ sau:
"Phạ xuất qui nhân phận ngoại hương
Thiên công giao phó hữu tình lang.
Ân cần kỳ thú tương tư cú
Nghi xuất hồng ty xuất động phòng".
(Khăn rơi mỹ nữ đượm mùi hương
Tạo hoá xui chi kẻ vấn vương
Gởi khúc tương tư tình tha thiết
Chỉ hồng buộc chặt mối lương duyên).
Kiều Loan xem xong bài thơ tứ tuyệt rồi nói:
- Từ nay em đừng đòi chiếc khăn ấy nữa mà sinh lôi thôị Nếu chàng có nhờ đưa thư nữa thì em cũng đừng nhận, coi như không có việc gì.
Tuy làm ra vẻ bình thản như thế nhưng thật ra lòng Vương Kiều Loan vô cùng xúc động.
Nàng đi nằm để trấn tĩnh lòng, nhưng chỉ một lúc sau ngồi lên đi quanh quẩn trong phòng. Rồi cuối cùng nàng lấy tờ hoa tiên ra đề thơ phúc đáp:
"Thiếp thân nhất điểm ngọc vô hà
Linh thị hầu môn tướng tướng gia
Tình ly hữu thân đồng đối nguyệt
Nhàn trung vô sự độc khán hoa
Biệt ngô chi hứa lai kỳ phượng
Thúy trúc nan dung nhập lãi hoa
Kỳ dữ dị hương cô lãnh khách
Mặc tương tâm sự loạn như ma"
(Thân em như khối ngọc trong lành
Khuê các sớm chiều với tuổi xanh
Ngày vắng dạo xem hoa dưới mát
Đem thanh thưởng thức nguyệt bên mành
Cành ngô phượng vĩ chen màu biếc
Khóm trúc ô môn đượm mảnh tình
Nhắn nhủ phượng xe người lữ khách
Đừng trao tâm sự rối ren lòng).
Vương Kiều Loan trao thơ cho Minh Hà, dặn đi ngõ sau trao cho Tống Ngọc và đừng để ai trong thấỵ Minh Hà theo lời dặn của chủ, ra ngõ sau và gặp Tống Ngọc. Chàng Tống hỏi:
- Vương tiểu thư có phúc đáp thư tôi chứ ?
Minh Hà gật đầu đáp:
- Có, nhưng công tử phải trả lại chiếc khăn trước đã.
Tống Ngọc cười nói:
- Tiểu thư cô đã phúc đáp thư; thì thiết tưởng chiếc khăn kia không còn cần thiết nữạ Cô hãy đưa thư cho tôi rồi sẽ haỵ
Minh Hà đành trao thư cho Tống Ngọc. Chàng Tống xem bài thơ của Vương Kiều Loan, rất khâm phục tài văn chương của nàng. Chàng ta nói:
- Cô hãy đợi tôi ở đây một chúc để tôi viết thư phúc đáp cho tiểu thự
Rồi chàng ta vào phòng viết một bài thơ tứ tuyệt đem ra đưa cho Minh Hà nhờ trao lại cho Vương Kiều Loan.
Từ đó, qua sự trung gian của Minh Hà, Vương Kiều Loan và Tống Ngọc thơ qua thơi lại luôn luôn. Và mối tình của hai người ngày càng thêm khắng khít.
Một thời gian sau, Kiều Loan gợi ý Tống Ngọc nên tính chuyện mai mối hỏi cưới nàng, nhưng Tống Ngọc cứ lần khân mãi, viện cớ song đường bận làm việc không rảnh rang.
Mặt khác, chàng ta lại tỏ ý muốn gần gũi Kiều Loan về thể xác.
Một hôm Tống Ngọc trèo tường vào vườn hoa trong phủ của Kiều Loan gặp nàng và tỏ ý muốn vào phòng nàng. Kiều Loan từ chối, Tống Ngọc đành ra về. Nhưng sau đó Kiều Loan lại sai Minh Hà đem cho Tống Ngọc một tờ hoa tiên. Chàng mở ra xem:
"Ám tương tế ngữ ký anh tài
Tháng hướng nhân tiên mạc loạn khai
Kim dạ hương khuê xuân bất toá
Nguyệt di hoạ ánh, ngọc nhân lai".
(Đôi lời xin ngõ cùng ai
Nỗi riêng chớ để người ngoài thị phi
Phòng xuân mở rộng đêm nay
Bông hoa rung động, gót hài rẽ sang).
Tống Ngọc xem xong lòng mừng vui như mở cờ. Đêm hôm ấy trời vừa sụp tối Tống Ngọc đã treo qua tường đông để đến với Kiều Loan. Lúc ấy Vương Kiều Loan đang đi đi lại lại trong phòng. Khi Minh Hà dẫn Tống Ngọc vào thì Kiều Loan nghiêm nét mặt sai Minh
Hà đi mời cô Tào Di đến để hội kiến. Tống Ngọc lòng đang rạo rực tưởng nghĩ đến chuyện vu sơn cùng người ngọc, bỗng thấy thái độ Kiều Loan nên đâu ra lo lắng, mặt mày xám ngắt.
Kiều Loan tỏ ý thương hại, mỉm cười nói:
- Thiếp vốn là người đoan chính, mong chàng cũng không phải là kẻ phàm phụ Sở dĩ ngày nay chúng ta yêu nhau là do sắc tài gắn bó. Đã yêu chàng thì thiếp còn tiếc chi nữa, song vườn xuân cánh bướm, biết lòng kia có giữ được lời nguyện ước cho chăng ?
Vậy chúng ta hãy cùng thề chung thủy với nhau đến đầu bạc răng long. Nếu không thề thì chàng chỉ là kẻ muốn ân aí mà không nghĩ đến nghĩ đá vàng.
Tào Di vào phòng, chứng kiến lời thề nguyện của Tống Ngọc và Kiều Loan. Sau đó, rượu và quả được dọn ra, Tào Di, Kiều Loan và Tống Ngọc ăn uống vui vầy say sưa đến khuyạ Tào Di cáo biệt. Kiều Loan và Tống Ngọc đưa nhau vào phòng bày cuộc ái ân.
Trời vừa tảng sáng, Kiều Loan thẹn thùng với tình lang.
- Cuộc đời và tấm thân thiếp đã trao cho chàng rồi, chỉ mong chàng giữ lấy lời thề để cành hoa không vì gió đông mà phai sắc nhạt hương. Từ nay về sau nếu có dịp thiếp sẽ sai Minh Hà đến đón chàng, chúng ta chớ nên phóng túng quá mà sinh ra điều dị nghị
Rồi Kiều Loan sai Minh Hà đưa Tống Ngọc ra về. Đôi mắt của người tỳ nữ đượm vẻ buồn u ẩn nào ai hiểu được nguyên do
Từ đó, đôi trai tài gái sắc không còn xướng hoạ thi thơ với nhau nữa; mà chỉ trao nhau tình yêu xác thịt Cứ vài bốn hôm Kiều Loan lại sai Minh Hà đi đón Tống Ngọc đến để ái ân.
Khổ thay, Minh Hà là một cô gái cũng đang độ phơi phới xuân tình, làm sao chịu đựng nổi cảnh yêu đương, ân ái của cô chủ mình và chàng trai hào hoa phong nhả kiạ Một ngày kia không cầm lòng được, Minh Hà đàn thố lộ lòng mình với Tống Ngọc. Thế là chàng trai phóng đãng ấy "cuỗm" luôn cô tớ gái của người tình. Cuộc tình tay ba vẫn âm thầm diễn ra theo thời gian, không ai hay biết trừ Tao Dị
Rồi một ngày kia, Tống Ngọc ngỏ ý cầu hôn Kiều Loan. Vương Thiên Hộ lâu nay đã từng nghe tiếng Tống Ngọc là một tay trăng hoa ong bướm, một tay đã bẻ biết bao cành thiên hương, nên nhất định không chịu gả Kiều Loan cho chàng. Nhưng Vương Trung có biết đâu rằng trong ba năm qua, tường đông nhà ông đã bị ong bướm quậy tưng bừng. Và chính con gái của ông là Kiều Loan cũng đã góp phần mua vui cho chàng trai đàng điếm Tống Ngọc.
Bị Vương Trung từ hôn, Tống Ngọc cũng buồn nên chàng cất bước giang hồ từ đó, mặc cho Vương Kiều Loan ôm mối tương tự Rồi Vương Kiều Loan ngã bệnh, ngày càng nặng thêm. Hình dáng gầy gò và sức lực ngày một kiệt dần đến mỗi người con gái đáng thương ấy phải lìa bỏ cõi đời ...
======================
(1) Tống Ngọc, người nước Sở thời Xuân Thu Chiến Quốc, học trò của Khuất Nguyên; lại là học trò giỏi nhất.
Tiểu sử của Tống Ngọc rất mơ hồ. Người ta chỉ biết rằng từ khi Khuất Nguyên chết, nước Sở còn lại có ba người rất giỏi về Sở từ, đó là Tống Ngọc, Cảnh Sai và Đường Lặc.
Tác phẩm của Tống Ngọc để lại gồm có các thiên Chiêu hồn, Đại Chiêu và Cửu biện cùng nhiều bài phú. Tống Ngọc có tài miêu tả, văn điêu luyện; mở đầu cho thế phú đời Hán về saụ
Sâm Thương
Nàng rằng: Nghĩa trọng nghìn non
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng
Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân
Sâm Thương, tên gọi trong dân gian là sao Hôm, sao Mai, là hai vì sao chẳng bao giờ trông thấy nhau, một đằng Đông buổi tối, một phía Tây ban sáng.. Truyện Thần tiên kể rằng:
Hàng năm, tại Thiên đình có hội Bàn Đào, tiên ông tiên nữ tề tựu dâng lễ vật, hái đào tiên chúc tụng Ngọc Hoàng. Tiên đồng Bảo Sâm theo hầu một tiên ông, ngọc nữ Thanh Thương theo hầu một tiên cô. Hai trẻ tình cờ, gặp gỡ , quen biết nhau rồi sinh tình. Trước ngày mở hội, đôi trẻ có chút thời gian bên nhau tình tư..
Một nhân vật thứ ba, tiểu đồng Trường Quang, cũng tình cờ gặp gỡ Thanh Thương, nhưng tình chỉ sinh một hướng, Thanh Thương đã yêu đậm Bảo Sâm mất rồi. Bị tình lờ, Trường Quang sầu thảm.
Đến ngày Bàn Đào khai hội, đàn ca xướng hát rộn ràng. Các tiểu đồng, ngọc nữ nhịp nhàng như vũ điệu, tay bưng khay, tay nâng chén ngọc hầu rượu các tiên ông tiên bà.
Thanh Thương, là ngọc nữ hát hay múa đẹp nhất, nên được chọn dâng chén cho Ngọc Hoàng. Nhưng tâm hồn nàng để lạc đâu đâu, đôi mắt cứ dõi tìm Bảo Sâm, nên sẩy tay đánh rơi cả khay ngà chén ngọc. Thanh âm ngọc vỡ tan hoang. Từ bàn dưới nhìn lên, Bảo Sâm thấy tai hoạ đang giáng xuống cho người yêu cũng sửng hồn, khay chén trên tay cũng đánh xoảng rơi xuống đất. Đàn ca xướng hát thanh thoát, bỗng nín bặt.,
Ngọc Hoàng xử tội ngay đôi trẻ:
- Đôi tiên đồng, ngọc nữ còn non tuổi mà lại dám bày trò yêu đương nơi cõi, tội đáng đày xuống trần gian cho làm một kiếp thú, sống trong núi thẳm rừng sâu, kiếp sau mới được đầu thai làm người ở luôn dưới cõi trầ.n...
Trường Quang không phạm lỗi chi cũng run lập cập khi Ngọc Hoàng đang xử tội người yêu.. một chiều; khi vưa nghe lơì kết tội đày xuống trần gian làm thú, không nén được đau thương, Trường Quang đã thét lớn: "Thanh Thương ơi, Thanh Thương ơi, ta nguyện theo nàng xuống trần gian. Ngọc Hoàng thêm giận, ừ thì muốn theo thì ta cho thỏa ước mơ, truyền cho đày tiểu đồng tình dại này đi chung một chuyến.
Các tiên ông tiên bà, thương cho ba trẻ tình si, chỉ vì thương yêu mà chuốc họạ Họ đồng thanh xin Ngọc Hoàng nương tay, chớ đày xuống trần gian, mà hãy cho ở lưu lạc đâu đó trên trời.
Lời câu xin của các tiên, Ngọc Hoàng nguôi ngoai cơn giận, phán lại lần cuối cho chúng làm hai ngôi sao, tuy ở chung cùng trời, nhưng không bao giờ được gặp nhau.
Nàng Thanh Thương làm sao Thương, là sao hôm, chỉ mọc lên ở hướng đông lúc về đêm; Bảo Sâm trở thành sao Sâm, là sao mai, mọc ở phía tây lúc trời hửng sáng.
Còn Trường Quang, sẽ được như ý, suốt đời tìm kiếm tình yêu, thì biến thành sao "vượt", bay đi xẹt lại trọn kiêp mà kiếm tìm.
Ca dao Việt Nam ta có câu:
Sao hôm chờ đợi sao mai
Trách lòng sao vượt nhớ ai băng chừng.
Sao vượt (sao băng) muôn đời vẫn mang theo điều mơ ước.
Ngày nay, có ai mong mỏi điều gì, hãy ngước nhìn lên trời đón ánh sao băng, điều ước mơ sẽ được toại nguyện. Nhưng còn sao Sâm, sao Thương, theo phán xử của Ngọc Hoàng phải ngàn nghìn trùng xa cách, đông tây, đêm ngày đuổi bắt nhau mà không gặp được .
Hôm nay mình giới thiệu về các điển tích trong lần đầu Kiều đánh đàn nhé :
So dần dây vũ dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.
Khúc đâu hán sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau.
Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng!
Kê khang này khúc Quảng Lăng,
Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân.
Quá quan này khúc Chiêu Quân,
Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia.
Ðây là những bản nhạc: Khúc chiến trường giữa Hán và Sở, khúc Tư Mã phượng cầu của Tư Mã Tương Như, khúc Quảng lăng của Kê Khang, khúc đi cống Hồ của Chiêu Quân. Mỗi khúc có một tính chất đặc biệt.
Khúc "Hán Sở chiến trường"
Tần Thuỷ Hoàng sau khi dẹp tan 6 nước: Yên, Tề, Sở, Nguỵ, Triệu, Hàn chấm dứt thời Chiến quốc (479- 220 trước DL)- cũng gọi là Thất hùng- thống nhất đất nước, lập nên nhà Tần. Nhưng vì chế độ nhà Tần quá khắc nghiệt, dân chúng nổi dậy chống lại. Trước có Trần Thắng, Ngô Quảng. Bước đầu dân nghèo chỉ chặt cây làm binh khí và dùng gậy làm cờ. Nhưng đều bị quân Tần đánh vỡ. Chỉ còn lại lực lượng của Lưu Bang ở đất Bái và hạng Võ ở đất Ngô chống cự được với quân Tần. Sau Hạng Võ đánh bại được tướng Tần là Chương Hàm ở đất Cự Lộc (tỉnh Hà Bắc), Lưu Bang thừa dịp, đem binh thẳng đến Hàm Dương (kinh đô nhà Tần) dứt được nhà Tần. Nhưng rồi qua phân làm hai nhà: Hán (Lưu Bang) và Sở (Hạng Võ) tương tranh.
Sở Hạng Võ có tướng tài, tham mưu giỏi mà không biết dùng. Hán Lưu Bang nhờ biết dùng người nên có nhiều bực hiền tài đến phò tá, như Tiêu Hà, Hàn Tín, Trương Lương được gọi là Tam Kiệt... nên đánh thắng được Sở, lên ngôi Vua, thống nhất đất nước (206 trước DL)
Cuộc tương tranh giữa Hán, Sở chỉ khoảng 10 năm nhưng cường độ chiến tranh lúc nào cũng khốc liệt. Cuối cùng, Sở Hạng Võ bị tướng soái của Hán Lưu Bang là Hàn Tín bao vây tại núi Cửu lý ở phía bắc thành Từ Châu. Tuy lâm vào tình thế nguy ngập, thiếu lương thảo nhưng bên cạnh vua Sở còn 8.000 tử đệ theo từ lúc ban đầu, ở vào lúc cùng, họ quyết tử chiến mở con đường máu, thẳng về Giang Ðông tức đất cũ, tu chỉnh binh mã, dựng lại thế lực để tiếp tục cuộc chiến đấu.
Như vậy là một bất lợi cho Hán, dầu có đại thắng bằng binh lực nhưng phải trả một giá rất đắt bằng xương máu. Vì thế, Trương Lương hiến kế là tìm cách phân tán 8.000 tử đệ để cô lập Hạng Võ. Có thế cuộc chiến thắng đỡ bớt hao sinh mạng. Trương Lương liền thừa lúc đêm khuya thanh vắng của tiết cuối thu lạnh lẽo, đi qua lại từ trên núi Kê Minh đến núi Cửu lý, thổi tiêu rồi hát. Trương Lương lại tuyển quân Hán học tiếng nước Sở cho hát bài "Bi ca tán Sở" do Trương soạn lấy.
Canh khuya đêm vắng, tiết trời lạnh lẽo, lá vàng rụng bay lả tả, tiếng tiêu thâm trầm, giọng hát ai oán gợi lòng thương nhớ gia đình cha mẹ già, vợ yếu con thơ... vọng vào dinh Sở. Quân Sở , tám ngàn tử đệ vốn người nước Sở, lìa quê nhà theo Hạng Võ nay gặp phải gian nguy, mạng sống như ngàn cân treo phải chỉ mành... nên trước chỉ buồn bã than thở, sau cùng càng thấm thía nước mắt đầm đìa, rồi bàn nhau bỏ trốn. Bên ngoài, Hàn Tín khéo léo nới rộng vòng vây để quân Sở tự do ra đi.
Chỉ trong ba đêm, tám ngàn tử đệ cùng quân sĩ các dinh trại của Sở, mười phần bỏ trốn hết bảy, tám. Cuối cùng, Hạng Võ phải từ biệt vợ là Ngu Cơ, cùng uống chén rượu buồn, cất tiếng hát một cách tuyệt vọng:
Lực bạt sơn hề khí cái thế
Thời bất lợi hề chuy bất thệ
Chuỳ bất thệ hề khả nại hà?
Ngu hề Ngu hề khả nại hà?
Tạm dịch:
Sức nhổ núi chừ khí hơn đời
Thời bất lợi chừ ngựa chẳng đi
Ngựa chẳng đi chừ biết làm sao?
Ngu chừ, Ngu chừ biết làm sao?
Ngu Cơ càng cảm động, cất giọng hoà lại:
Hán binh dĩ lược địa
Tứ diện Sở ca thinh
Ðại vương ý khí tận
Tiện thiếp hà biểu sinh
Tạm dịch:
Binh Hán chiếm lấy đất
Bốn mặt tiếng Sở kêu
Ðại vương y khí hết
Mạng sống thiếp phải liều
Ngu Cơ cầm gươm tự tử
Thế rồi Vua Sở Hạng Võ một người một ngựa đánh mở con đường máu, thoát khỏi vòng vây chạy đến bên sông Ô, nhưng không qua được sông, cuối cùng tự tử.
"Khúc Hán Sở chiến trường", "tiếng sắt tiếng vàng" là tiếng những binh khí bằng kim loại va chạm nhau. Tiếng đục (sắt), tiếng trong (vàng), nghe đàn mà cảm thấy như nghe TIẾNG GƯƠM GIÁO CHẠM MẠNH, SÁT PHẠT GIỮA CHIẾN TRƯỜNG. Ý nói khúc đàn hùng tráng, rộn rã hoà hợp với tâm hồn rộn rã, tưng bừng của người gảy đàn như mở màn, chào đón một cuộc hội ngộ của đôi bạn son trẻ đắm đuối yêu nhau.
Khúc "Tư Mã phượng cầu"
tức là khúc "Phượng cầu hoàng" (chim phượng trống tìm chim phượng mái) của Tư Mã Tương Như đàn tỏ tình với nàng Trác Văn Quân.
Tư Mã Tương Như tự Trường Khanh, người ở Thành Ðô đời vua Cảnh Ðế (163- 149 trước DL) nhà Hán. Người đa tài, văn hay đàn giỏi.
Khi lìa quê lên Trường An (kinh đô nhà Hán) lập công danh, đến con sông đầu làng, Tương Như viết trên cầu một câu: "Bất thừa cao xa tứ mã, bất phục quá thử Kiều" (không ngồi xe cao bốn ngựa, không qua lại cầu này nữa). Vì quyên tiền, Tương Như được làm một chức quan Lang.
Vốn con người hào hoa phong nhã rất mực, làm quan một thời gian sinh chán, cáo bịnh từ quan qua chơi nước Lương, làm bài "Ngọc như ý" được vua nước Lương ban cho một cây đàn lục ỷ, trên khắc bốn chữ "đồng tử hợp tinh", lại trở về đất Thục. Ðến đâu, Tương Như cũng dùng bút mực và cây đàn để giao thiệp bằng hữu.
Khi đến đất Lâm cùng, Tương Như vốn sẵn quen thân với quan Lịnh ở huyện là Vương Cát nên đến chơi. Cát lại mời Tương Như cùng đi dự tiệc ở nhà Trác Vương Tôn là viên ngoại trong huyện. Nghe tiếng Tương Như đàn hay nên quan huyện cùng Trác Vương Tôn yêu cầu Tương Như cho thưởng thức một bài.
Trác ông vốn có người con gái rất đẹp tên Văn Quân còn trẻ mà sớm goá chồng, thích nghe đàn. Tương Như được biết, sinh lòng yêu mến, nhân đó định trêu nàng nên vừa đàn vừa hát "Khúc Phượng cầu hoàng":
"Phượng hề phượng hề quy cố hương
Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng
Thời vị ngô hề vô sở tương
Hữu diện thục nữ tại khuê phường
Thất nhĩ ngân hà, sầu ngã trường
Hà duyên giao cảnh vi uyên ương
Tương hiệt ương hề cộng cao tường"
Nghĩa:
"Chim phượng, chim phượng về cố hương
Ngao du bốn biển tìm chim hoàng
Thời chưa gặp chừ luống lỡ làng
Hôm nay bước đến chốn thênh thang
Có cô gái đẹp ở đài trang
Nhà gần người xa não tâm tràng
Ước gì giao kết đôi uyên ương
Bay liệng cùng nhau thoả mọi đường"
(Bản dịch của Trúc Khê)
Tiếng đàn lảnh lót, giọng hát thâm trầm, ý đầy tình cảm, con người hào hoa phong nhã, Văn Quân đứng nép bên trong nghe tiếng nghìn người, biết người gợi ý đến mình nên lòng sinh bồi hồi cảm xúc. Rồi một đêm, nàng bỏ nhà đi theo tiếng gọi của tình yêu. Tương Như đưa nàng về nhà mình. Nhà quá nghèo, gió lộng bốn bề. Ông già họ Trác quyết định từ con.
Tương Như nghèo nàn buồn bã, đem chiếc áo cừu túc sương đi cầm cho người ở chợ, để mua rượu về cùng Văn Quân đối ẩm. Văn Quân ôm đầu, khóc nói: "Ta xưa này giàu có, nay đến nỗi phải đi cầm áo mua rượu, buồn biết chừng nào!"
Thế rồi, vợ chồng mở một quán nấu rượu. Văn Quân giữ việc nhóm lò nấu rượu, còn Tương Như thì mặc quần cộc làm lụng rửa vò hủ ở chợ.
Sau Hán Võ đế đọc bài "Tử hư phú" của Tương Như, khen tài mới vời vào triều, ban chức quan Lang. Vì muốn thông sứ các dân tộc miền Tây nam, nhà vua phong chức Trang Lang tướng, cầm cờ tiết mao đi sứ. Tương Như vào đến đất Thục, quan lại từ dưới đến Thái thú đều ra tận ngoài thành tiếp rước, quan huyện Lịnh thì vác cung nỏ đi tiền khu; người người đón tiếp long trọng. Trác Vương Tôn bấy giờ không còn dám khinh thường chàng rể nữa. Nhưng Tương Như làm quan ít lâu lại chán, cáo bịnh lui về quê.
"Khúc Tư Mã phượng cầu" tức là khúc "Phượng cầu hoàng" mà Tư Mã Tương Như gảy tỏ tình với Trác Văn Quân. Ðây là một khúc đàn tình tứ lãng mạn khá đẹp.
Trong "Bích Câu Kỳ ngộ" của Vô Danh, có câu:
Cầu hoàng tay lựa nên vần
Tương Như lòng ấy Văn Quân lòng nào
Qua phút từng bừng rộn rã "tiếng sắt tiếng vàng chen nhau" như "Hán Sở chiến trường", thì bây giờ tình cảm chuyển sang thâm trầm, dịu dàng, đằm thắm, thiết tha, chứa chan mộng đẹp lâng lâng của một mối tình đầu như nụ hoa tình chớm nở buổi sương mai .
Làm trai biết đánh tổ tôm,
Uống trà Mạn Hảo, ngâm nôm Thuý Kiều.
Truyện Kiều hay, đó là 1 sự thật không thể chối cãi, thế nhưng để hiểu được cái hay, cái thâm thuý của nó thì không thể chỉ đọc lướt qua như cưỡi ngựa xem hoa được, mà chúng ta nên tìm hiểu thêm cả những điển tích, điển cố trong đó nữa. Vì lí do đó, mình post chủ đề này lên, nếu có gì sai sót, nhờ các bạn giúp đỡ < và thank nhiệt tình nhá >
Trước hết, nếu bạn chưa có 1 cuốn truyện Kiều thì có thể vào đây down về tham khảo : Truyện Kiều (Nguyễn Du)
Lady first, điển tích về phụ nữ trước nhé:
Ả Lý - Nàng Oanh.
Trích từ câu :
Dâng thư đã thẹn nàng Oanh
Lại thua ả Lý bán mình hay sao ?
Nàng oanh
Đời nhà Hán có Thuần Vu Ý làm quan đất tề ; nhà không có con trai, chỉ sinh được 5 con gái, Đề Oanh là gái út.
Thuần Vu Ý mắc tội lớn phải thọ hình. Khi bắt giải tử tội về kinh , Đề Oanh đi theo cha. Đến kinh thành, nàng dâng thư lên Hán Văn Đế tâu rằng, nếu cha chết đi, cũng không mảy may đền được chút tội; nay thân gái này khẩn thiết xin vua được cho vào cung làm cung nhân thô (người làm sạch sẽ cho vua sau mỗi lần vua đi vệ sinh), để chuộc tội một phần nào cho cha. Hán Văn Đế đọc thư của nàng Oanh, cảm động vì lòng hiếu hạnh của nàng nên tha tội cho Thuần Vu Ý.
Ả Lý
Thời Hán Vũ Đế, ở quận Mân Trung đất Đông Việt., trong một cái hang sâu có con rắn khổng lồ; dân chúng trong vùng rất kinh hãi, gọi là thần rắn. Hàng năm phải cung cho thần rắn một người con gái đồng trinh thì dân mới yên ổn làm ăn. Nhưng dần cũng hết, tìm đâu ra con gái\.
Bấy giờ ở huyện Tương Lạc, có nàng Lý Ký, nhà nghèo xơ xác, cả cha mẹ đều bệnh năng không tiền thuốc thang. Nàng Lý đã trốn cha mẹ, đến cửa quan tự nguyện bán mình nộp mạng cho rắn, rồi nhờ chuyển tiền về cho cha mẹ.
Nàng xin quan lệnh ban cho một cây gươm bén và một con chó dữ. Vào bên trong hang, nàng thả chó dữ ra chiến đấu với rắn, và dùng gươm chém rắn từng khúc.
Dư Thiện là cháu lâu đời của Việt Câu Tiễn được Hán Vũ Đế phong vương ở đất Đông Việt. Biết được chuyện người con gái hiếu thảo, can trường, Đông Việt vương đã đón ả Lý về làm vợ.
Ả Tạ- Nàng Ban
Khen tài nhả ngọc phun châu
Nàng Ban, Ả Tạ cũng đâu thế này
Nàng Ban
Ban Chiêu tự là Huê Cơ là người đàn bà hay chữ đời Đông Hán. Năm mười lăm tuổi Ban Chiêu đã biết làm thơ và làu thông Tứ Thư, Ngũ kinh. Lấy chồng là Tào Thế Thức, một danh nho của Đông Hán. Sống chung được mười năm thì Tào Thế Thức qua đời vì bệnh; Ban Chiêu thủ tiết thờ chồng.
Đời vua Hoà Đế, Ban Chiêu được triệu vào cung để dạy học cho các hoàng tử và các phi tần. Lúc bấy giờ cha của bà là Ban Bưu đang tại chức Đông các đại học sĩ, chịu trách nhiệm soạn thảo bộ Hán Thư. Công việc đang còn dang dở thì ông qua đời. Anh của ban Chiêu là Ban Cố được nhà vua chỉ định tiếp tục công trình của cha. Nhưng chẳng bao lâu, Ban Cố cũng qua đời vì bạo bệnh, trong khi bộ Hán thư vẫn chưa xong. Ban Chiêu tâu với vua cho bà được tiếp nối công trình. Vua Hòa đế chấp thuận và bà được sung vào Đông các tàng thư tiếp tục soạn bộ Hán thư cho đến hoàn tất.
Trong thời gian ở Đông các tàng thư, Ban Chiêu đã trước tác tập Nữ Giới, gồm bảy thiên. Từ đó lẫy lững tài danh Ban Chiêu.
Ả Tạ
Ả Tạ là Tạ Đào Uẩn, con gái quan Thái úy Tạ Công đời nhà Tấn, có nhan sắc tuyệt trần lại thông minh nhất mực. thơ phú hay lừng tiếng.
Trong cùng một vùng, có họ Vương cũng dòng giỏi gia phong, con cháu cũng thuộc vào bậc vọng tộc. Họ Tạ và họ Vương bắt thông gia với nhau, con trai con gái hai họ chỉ kết duyên vói nhau, không lấy người ngoài họ.
Tạ Đạo Uẩn lúc nhỏ đã thông minh, học rộng lại có tài biện luận. Nhân một hôm về mùa đông, tuyết rơi lả tả, chú của Tạ Đạo Uẩn là Tạ An ngồi uống rượu nóng có cả hai cháu là Tạ Lãng và Đạo Uẩn ngồi hầu bên. Tạ An liền chỉ tuyết, hỏi: - Tuyết rơi giống cái gì nhỉ?
Tạ Lãng đáp: - Muối trắng ném giữa trời.
Tạ Đạo Uẩn bảo: - Thế mà chưa bằng "Gió thổi tung tơ liễu
Tạ An khen Tạ Đạo Uẩn là thông minh, nhiều ý hay, tư tưởng đẹp. Ông lại thường chỉ Đạo Uẩn mà bảo các con cháu rằng: - Nếu là trai, Tạ Đạo Uẩn sẽ là bực công khanh.
Tạ Đạo Uẩn sau kết duyên với Vương Ngưng Chi, một nhà nho lỗi lạc đương thời.
Làm vợ họ Vương, Tạ Đạo Uẩn thường thay chồng tiếp khách văn chương, đàm luận thi phú. Nàng tỏ ra là người hoạt bát, thông suốt nhiều vấn đề, lập luận vững chắc làm nhiều tay danh sĩ đương thời phải phục.
Em chồng của Tạ Đạo Uẩn là Vương Thiếu Chi. Người học giỏi nhưng lập luận kém cỏi, thiếu hoạt bát nên trong khi biện luận thường bị khách áp đảo. Tạ Đạo Uẩn sợ em chồng mất giá trị nên bảo thị tỳ thưa với Thiếu Chi làm một cái màn che lại, nàng sẽ ngồi sau để nhắc Thiếu Chi trong khi biện luận với khách.
Thiếu Chi nhờ đó mà khuất phục được khách và nổi danh, được nhiều người kính phục.
Nàng Ban, ả Tạ là hai người phụ nữ có tài danh về thi phú văn chương. Về sau, các nhà văn học thường dùng tiếng "nàng Ban, ả Tạ" để chỉ người phụ nữ tài giỏi, có danh tiếng về văn chương thi phú.
Gặp cơn bình địa ba đào
Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.
Tích truyện :
Triều Huệ Đế đời nhà Minh, tại huyện Tề Hàng, tỉnh Sơn Nam, có hai vợ chồng Trần Hoá Chiêu, Lương Tiểu Ngạ Tiểu Nga là con một gia đình thúc nho lễ giáo, nổi tiếng là một trang quốc sắc thiên hương; thuở nhỏ được cha mẹ cho theo đòi bút nghiên, mười hai tuổi đã biết làm thơ phú, đọc thông các sách thánh hiền. Hoá Chiêu là học trò của cha Tiểu Nga; cậu học trò nghèo, mồ côi cha, thông minh, ham học, mặt mày khôi ngô, được thầy thương, gả con gái và cho ở rể. Sống chung với nhau được ba năm, thì bố mẹ vơ, lần lượt qua đời, để lại cho vợ chồng một căn phố và ít vốn liéng để mở một tiệm tạp hóa.
Đời sống cũng được êm đềm. Trong vùng, các văn nhân thỉnh thoảng đến mua hàng và cùng vợ chồng Trần Hóa Chiêu xướng họa ngâm thơ. Cũng không ít khách lai vãng thường xuyên đến đó vờ vĩnh mua hàng, để được dịp chiêm ngưỡng dung nhan Tiểu Nga; có phú hộ Trát Hiếu Sắc cũng thuộc loại khách này.
Nhưng không như những mối tình câm kia, đến nhìn để rồi thầm yêu trộm nhớ, Hiiếu Sắc đã manh tâm chiếm hữu người đàn ba này cho được. Phú hộ tìm hiểu, biết vợ chồng vì ham thích thơ văn , nên buông lỏng chuyện mua bán, vốn liếng cụt dần. Phú hộ ra tay hào hiệp, cho mượn vàng bạc để gầy dựng lại. Ngại ngùng lần đầu, nhưng rồi tiếp những lần sau, Hoá Chiêu cầm vàng bạc mượn đi buôn bán xa, chuyến nào cũng lời khẫm. Lần nào, vợ chồng cũng nài nỉ hoàn lại vốn và trả lời, nhưng Hiếu Săc đều từ chối lấy lãi.
Cứ vậy, hai năm họ trở thành bạn thâm giao. Hiếu Sắc luôn tỏ ra mình là người đàng hoàng, nghiêm túc, không bao giờ đến nhà bạn trong lúc vắng mặt Hoá Chiêu; những lúc tiếp chuyện với Lương Tiểu Nga, luôn luôn giữ thái độ đứng đắn. Vợ chồng Hoá Chiêu vui mừng có được người bạn hiền, hào phóng. Khi tự xét lý lịch "nằm vùng" của mình đã đến lúc kết nạp được, Hiếu Sắc đề nghị chung vốn làm ăn lớn. Vợ chồng Hóa Chiêu hoàn toàn tin tưởng, hớn hở nhận lời ngay.
Việc buôn bán phất lên nhanh, nhưng Hiếu Sắc vẫn cương quyết không bao giờ nhận chia lãi, nại lý do để giúp vợ chồng bạn.
Một lần, Hiếu Sắc bàn với Hóa Chiêu phải đi buôn một chuyến lớn ở Hàng Châu xa xôi và thuê thuyền xong, cả hai cùng lên đường. Ròng rã cả tháng trời thuyền mới đến Hàng Châu vào một đêm trăng thanh gió mát. Hai người đem rượu ra mũi thuyền đối ẩm tâm sự Hoá Chiêu, tình thật, ngâm một câu thơ, lại ngậm một chén rượu ; Hiếu Sắc thì cứ làm động tác giả, hắt rượu qua vai. Quá nửa đêm, Hoá Chiêu rụng, người mềm nhũn. Lúc bấy giờđám gia nhân dưới thuyền cũng đã ngủ saỵ Hiếu Sắc lôi Hóa Chiêu, xô xuống sông. Đôi ba lần Hoá Chiêu ngoai ngóp trồi đầu lên, Hiếu Sắc lại dùng sào dìm xuống cho đến khi mặt nước không còn sủi bọt nữa.
Không cần phải buôn bán chi, Hiếu Sắc cho thuyền quay về Tề Hàng ngay. Mẹ Hoá Chiêu và Tiểu Nga đau lòng với nỗi bất hạnh, nhưng vần cảm kích Hiếu Sắc đã bỏ cả chuyến hàng lớn để vội vàng trở về báo hung tin.
Rồi sau đó, đều đều, Hiếu Sắc lui tới thăm viếng và cấp dưỡng cho mẹ Hoá Chiêu và cô vợ góa trẻ. Và lần nào nước mắt phú hộ hào phóng cũng đầm đìa.
Người đời càng nể trọng hơn khi thấy Hiếu Sắc ân cần chăm sóc mẹ của Hoá Chiêu chu đáo hơn vợ bạn, khiến mẹ già cũng có phần đăm chiêu
Ba năm sau, mãn tang. Hiếu Sắc cho người đến thưa chuyện với mẹ Hóa Chiêu xin cưới Tiểu Nga lam vợ. Bà mẹ đã đăm chiêu nhiều, nên thuận tình ngay, khuyên nhủ con dâu nên bước thêm bước nữa.
Lương Tiểu Nga vốn là gái hiền thục, vẫn còn thương yêu người chồng vắn số, nhưng vẫn phải vâng lời mẹ chồng, tái giá.
Cưới được Lương Tiểu Nga rồi, Hiếu Sắc vẫn một mực chăm sóc mẹ Hoá Chiêu; bà cũng an lòng nghĩ rằng con dâu mình có được bóng mát cho cuộc đời còn lại.
Vợ chồng ăn ở vơi nhau được mười năm, sinh được hai mụn con. Đời sống an nhàn. Một đêm trăng vào hạ, vợ chồng ra ngồi hóng mát bên ao sen. Hiếu Sắc nhấm rượu, và ngấm rượu; Đương lúc đó, có con ếch nhảy lên một lá sen. Tiểu Nga đưa cây sào thọc cho con ếch nhảy đi. Sào thọc xuống thì con ếch lặn, cất sào lên, nó lại trồi lên. Tiểu Nga phải thọc vào con ếch mấy lần nữa, nó mới chịu lặn chìm mất.
Bất giác, Hiếu Sắc buột miệng ngâm:
"Hồi ức thập tam niên tiền sự
Huyên tợ hà mô lục thủy thờị.
Nhớ chuyện mươi ba năm trước đây
Mường tượng ngày nay ếch ngóp ngoai
Nghe lời thơ lạ, Tiểu Nga bảo chồng lập lại để mình họa theo. Hiếu Sắc lè nhè đọc lại rồi cao hứng nói vợ lấy giấy bút cho mình chép lại làm thủ bút. Thôi rồi, kẻ hào hiệp chung chăn gối với mình mười năm nay, thì ra là một kẻ nham hiểm thâm độc.
Không thể để cho Hoá Chiêu chết oan, Tiểu Nga đã nắ lấy vật chứng là hai câu thơ thủ bút của Hiều Sắc, đem đi trình quan.
Bị bắt tra vấn, Hiếu Sắc khai hết sự thật câu chuyện hơn mười ba năm trước, vì đã cuồng si nhan sắc của Lương Tiểu Nga nên đóng trò đạo đức, rồi bày mưu giết chồng đoạt vợ Trát Hiếu Sắc bị xử tội tử hình.
Đúng là sắc bất ba đào dị nịch nhân, nhan sắc đâu phải là sóng lớn mà cũng dìm chết người, hai người chồng đều phải tức tưởi lìa đời.
Sắc đẹp là tội lỗi, nàng đã đến công đường, xin xử tội cái nhan săc nàỵ Nhưng luật pháp có bao giờ lại tử hình một hồng nhan. Có chăng thì lạ gì bỉ sắc tư phong, hồng nhan phải tự mang lấy cái nghiệp chướng đa truân.
Bảy chữ - Tám nghề
Này con thuộc lấy làm lòng
Vành ngoài bảy chữ, vành trong tám nghề
Chơi cho liễu chán hoa chê
Cho lăn lóc đá cho mê mẩn đời
Khi khóe hạnh, lúc nét ngài
Khi ngâm ngợi nguyệt, khi cười cợt hoa
Tích truyện :
Theo truyện Kim Vân Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc):
Tú bà hỏi Kiều: Tiếp khách thế nào mới lưu được khách?.
Kiều trả lời: ngủ với ngươì ta chớ gì?;
Tú bà giẫy nẫy: con này mới ngu làm sao ! Nếu con gái nhà thổ cũng như con gái nhà lương gia thì ai buồn chơi. Nghề chơi ở trong còn lắm điều hay, khi khách lên giường, thì mày nhường khách nằm trong, mày nằm ngoài, ngoảnh mặt lại chầu khách; tay khách tất sờ vào mình mày, mày phải sờ hạ thể khách..
Bảy chữ vành ngoaì là:
1. Khốc: khóc lóc giả bộ thương yêu, khách quyến luyến không rời được
2. Tiễn: cắt tóc mày và tóc khách, se vào nhau; mỗi người buộc vào cánh tay như thề nguyện kết tóc se tơ.
3. Thích : khi đã thỏa thê tình dục rồi, lấy kim chích tên của khách lên cánh tay hay đùi mày, lấy mực xoa vàọ Khách sẽ trút hết tiền vì nghĩ rằng mày đã chết mê chết mệt nó, mới xăm tên nó lên thân thể mày như vậỵ Khách sau đến, trông thấy ắt phải nghĩ rằng: không biết người đi trước đãi mày thế nào mà mày yêu đến thế. Tất nhiên sau đó sẽ hậu đãi mày để được lòng mày, yêu hơn người trước. Nhân thể phải biết chau mày, nói: khách đi trước đã tiêu phí không biết bao nhiêu tiền mới được lạc thú tuyệt đỉnh, do đó mới xăm tên, nay muốn được thích thú hơn, tất nhiên phải quăng tiền cho mày.
4. Thiêu: là khổ nhục kế, hai đứa đều chích máu trong người ra để thề, phỏng gặp thằng ngu, mày cùng nó đốt huơng thề, như thế thì nó táng gia bại sản cũng đáng đời.
5. Giá: dùng mẹo để lừa, cứ như mong được làm vợ, suốt ngày chỉ nói chuyện mơ ước về nhà chồng và các điều thề thốt. Hễ nó đã mê, tự nhiên bỏ của ra; tiền đã hết rồi, nó muốn cưới, mày giả đau không dậy, thế thì chẳng phải đợi mày đuổi, nó tự động cũng cút xéo.
6. Tẩu: khách chơi đã hết của, mày phải đuổi nó ra khỏi cửạ Nếu nó vẫn đeo, thì vờ hẹn nó đến một nơi nào đó, rồi nắm áo lại, dọa sẽ tri hô lên cho quan đến bắt kẻ lưu manh có ý cưỡng bức màỵ Tự khắc nó phải bỏ mày.
7. Tử: dẫu biết nó có vợ có hầu, mày vẫn thế thốt sống chết nếu không được sống chung thì tự vẫn; vậy nó có tiêu pha hết của cho mày thì cũng phải.
Bảy chữ mới chỉ là mánh khóe bên ngoài để dụ dỗ khách. Còn khi hành lạc, thì vành trong phải đủ tám nghề:
1. Với khách có hạ thân nhỏ thì dùng phép "đánh trống giục hoa" (kích cổ thôi hoa).
2. Với khách có hạ thân lớn thì dùng phép "sen vàng khóa xiết" (kim liên song tỏa).
3. Nếu khách hối hả, lụp chụp thì dùng phép "mở cờ đánh trống" (đại chiến kỳ cổ)
4. Nếu khách khoan thai thì dùng phép "đánh chậm gõ sẽ" (mạn đả khinh sao)
5. Với người mới " vỡ lòng "thì dùng phép "ba bậc đổi thế" (khẩn thuyên tam trật).
6. Gặp khách sành sỏi thì dùng phép "tỏa tâm truy hồn"
7. Gặp khách tay ngang tì dùng phép "tả chi hữu chì"
8. Đối với khách đam mê nhan sắc thì dùng phép "dềnh dàng hớp vía" (nhiếp thần phiến tỏa).
Băng nhân
Sự lòng ngỏ với băng nhân
Tin sương đồn đại, xa gần xôn xao
Tích truyện :
Văn nhân Linh Hồ Sách nằm mơ thấy mình đứng trên băng tuyết nói chuyện với một người lạ nằm dưới băng tuyết. Linh Hồ Sách đem chuyện năm mơ của mình thuật lại cho Sách Thẩm, một người rất giỏi về thuật số. Sách Thẩm giải mộng:
- Băng thượng nhân ngữ băng hạ nhân, tức là dương nói chuyện với âm. Điềm này tất có chuyện mai mối đây. Vậy nếu có ai nhờ tiên sinh se duyên, thì cứ nhận lời. Đến khi băng tan, thì lương duyên thành.
Mấy hôm saụ Linh Hồ Sách đưọc Điền Báo nhờ làm mối lái xin hỏi cưới con gái của Trương Công Vị. Linh Hồ Sách nhận làm mai và được Trương Công Vi đồng ý. Quả đúng, đến mùa xuân, khi băng tan hết thì hôn lễ của Điền Báo với con gái Trương Công Vi được cử hành.
Bố Kinh
Đã cho vào bậc Bố kinh
Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu
Tích truyện :
ố kinh là hai chữ thu ngắn, Bố quần là chiếc quần bằng vải, kinh thoa là cái trâm cài đầu bằng gaị Bố kinh lấy từ chuyện Lương Hồng Mạnh Quang trong sách Di Uyển của Trung Quốc:
Lương Hồng là một hàn sĩ ơ Giang Nam, nhà nghèo xơ xác, hiếu học, trọng đạo đức nhân nghĩạ Nhiều người rất cảm phục nhân cách của chàng , trong đó có một phú hộ thật tâm muốn tìm cách giúp đỡ . Lần đầu tiên tìm đến gặp Lương Hồng, phú hộ muốn tặng chàng hai gói chè quí ngọn hái từ đỉnh núi Vũ Di . Lương Hồng nhẹ nhàng thưa:
- Nếu có gì cần dạy bảo xin ngài vui lòng chỉ giáo, còn lễ vật ngài cho tôi xin được phép từ chối.
Phú hộ đành cầm lễ vật ra về, trong lòng nghĩ hay là chàng nho sĩ kia vì nghĩ phận mình nghèo hèn không dám giao tiếp với người giàu sang như ta. Nghĩ vậy nên ít ngày sau, phú hộ lại tìm đến, chân đi giày cỏ, cẩn thận buộc ngưa từ ngoài xa. Trong lều tranh, Lương Hồng vẫn mải mê đọc sách; phú hộ kiên nhẫn chắp tay đứng đợi ngoài sân. Sau mấy canh giờ, Lương Hồng chợt gấp sách, nhìn ra ngoài, trông thấy vị khách đang đứng chờ. Chàng cung kính mời vào. Lần này phú hộ chỉ xin tặng một gói trà ngang, nhưng bên trong lại có mấy nén vàng, gọi là chút tiền độ nhật cho hàn sĩ. Lương Hồng nhất mực từ chối:
- Nếu ngài có ý coi trọng kẻ hèn nay thìhãy cư xử nhau bằng tình nghĩa; xin bảo trọng tình nghĩa trong sáng này, đừng để lễ vật làm hoen ố đi.
Phú hộ lại phải đem lễ vật về và vẫn không nghĩ ra cách gì để giúp đỡ con ngươì liêm khiết này. Và không những chỉ có phú hộ này, nhiều danh gia khác cũng nghe tiếng thơm Lương Hồng, muốn muốn đem gả ái nữ chọ Trong số này, có nhà họ Mạnh, giòng dõi nho gia, giàu có mấy đời, có tiểu thư Mạnh Quang, sắc nước khuynh thành, vương tôn công tử gần xa đều ngấp nghé. Nhà họ Mạnh chủ động muốn nhận Lương Hồng làm rể. Lương Hồng cũng nghe tiếng gia đình họMạnh tuy giàu có, nhưng nổi tiếng mấy đời lương thiện, nên bằng lòng kết nghĩa trăm năm với nàng Mạnh Quang.
Ngày hợp hôn, Mạnh Quang muốn làm đẹp lòng chồng, trang điểm má phấn tô son, xiêm y lộng lẫy, vàng ngọc sáng ngờị Nào ngờ, trông thấy tân nương rực rỡ như vậy, tân lang lại tiu nghỉu, suốt bảy ngày đêm ủ ê không buồn động phòng hoa chúc. Thoạt đầu, Mạnh Quang đã quá lo âu, không hiểu mình đã lời ăn tiếng nói như thế nào để chàng phải phật ý; cuối cùng thì nàng cũng nghĩ ra và đã vất bỏ hết các xiêm y, trang sức sặc sỡ đó, mà chỉ mặc quần áo vải và đầu cài thoa gai đến bên chồng. Đến đây, Lương Hồng mơi bật lên mừng rỡ, ôm chầm lấy tân nương:
- Đây mới thật là vợ của Lương Hồng. Trong phú quý', giàu sang, thường người ta không giữ được nhân nghĩạ Ta chỉ muốn sống trong thanh bần, tự mình cày ruộng mà ăn, dệt vải mà mặc, cuộc sống đạm bạc nhưng vợ chồng luôn có nhau, tương kính nhau.
Người đời sau lấy chữ Bố kinh trong điển tích này để nói đến các bà vợ hiền thục.
Tố Nga
Đầu lòng hai ả TỐ NGA
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
(Câu 15,16. Giới thiệu chị em Kiều)
Tố NGA:Tố là trắng. Nga là đẹp. Bài Nguyệt phú của Tạ Trang có lời chú: "Thường Nga thiết dược bôn nguyệt; nguyệt sắc bạch, cố vân Tố Nga" (Thường Nga lây trộm thuốc tiên, thoát lên cung trăng; mặt trăng sắc trắng cho nên nói là Tố Nga). "Thần Tiên truyện" chép rằng: Thường Nga là vợ Hậu Nghê.. Hậu Nghệ xin thuốc trường sanh của bà Tây Vương Mẫụ Hậu Nghệ là người tính tình không tốt, hay làm việc phản bạn, Thường Nga khuyên chồng mãi mà không được. Nàng giận thừa cơ uống trộm thuốc tiên và bay lên cung trăng.
Lại có truyền thuyết nói rằng vua Đường Minh Hoàng (tức Đường Huyền Tông) lên chơi nguyệt điện thấy có mười người con gái mặc toàn trắng và cỡi hạc trắng múa hát; cho nên nhà vua dùng chữ Tố Nga để chỉ mặt trăng và cũng để chỉ người con gái đẹp.
Mai cốt cách
Mai cốt cách, tuyết tinh thần.
Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười
(Câu 17 và 18. Phẩm chất chị em Kiều)
MAI CỐT CÁCH là thân hình mảnh mai, yếu đuối như cây maị Đây là quan niệm của người xưa, người con gái được coi là đẹp phải có thân mình ẻo lả mảnh mai như thế.
Điển hình cho người đẹp "mai cốt cách" là nàng Mai Phi, một người phi sủng ái của vua Đường Huyền Tông khi ông chưa có nàng Dương Quý Phị
Mai Phi tên thận là Giang Thái Tần, chào đời và lớn lên ở Mai Hoa thôn. Nàng được Thái gíam Cao Lực Sĩ tuyển chọn vào cung dâng cho vua Đường Huyền Tông. Nàn có nhan sắc diễm lệ và thân hình mảnh dẻ gió thổi cũng baỵ Hơn nữa, nàng rất yêu thích hoa mai nên được nhà vua đặt là Mai Phị
Vào cung, Mai Phi đã được vua Đường Huyền Tông sủng ái rất mực một thờị Đến khi nhà vua có được Dương Quý Phi thì Mai Phi bị thất sủng. Nàng sầu khổ lâm bệnh và cuối cùng chết đi như một cành hoa mai héo hắt.
Cùng mẫu người "mai cốt cách" như Mai Phi còn có Đào Hoa Nữ trong bài thơ của Thôi Hộ, nàng Thôi Oanh Oanh trong Tây Sương Ký và nàng Lâm Đại Ngọc trong Hồng Lâu Mộng
Loại phụ nữ như thế chỉ là một loại hoa quý để cấm trong bình cho người khác thưởng thức chứ không thể là mẫu người làm vợ lý tưởng được. Tại sao Vì thân thể họ nhuyển nhược, mềm yếu quá có làm nên chuyện gì đâủ Nhất nhất chuyện gì họ cũng đều trông cậy vào người khác mà thôị Và mẫu người như thế thường là "hồng nhan bạc phận", sớm bị yểu vọng chứ không thể trường thọ được.
Khuôn trăng đầy đặn
Vân xem trang trọng khác vời
KHUÔN TRĂNG ĐẦY ĐẶN NÉT NGÀI NỞ NANG
Cổ tướng thư nói: "Diện như mãn nguyệt, mi nhược ngoạ tàm"; nghĩa là mặt như trăng tròn, lông mày như con tằm nằm ngang. Đây là một cách tả ước lệ của người xưa về đoan trang của người phụ nữ.
Cũng sách Cổ tướng thi còn ghi: "Diện như mãn nguyệt, thanh tú nhi thần thái xạ nhân gia vi chi chiêu hà chí diện, nam chủ công hầu tướng, nữ chủ hậu phi phu nhân". (Mặt như trăng rằm thanh tú, tinh thần rực rỡ sáng sủa gọi là cái mặt của ráng trời buổi sớm, con trai công hầu, con gái hậu phi, phu nhân).
Người phụ nữ được cái tướng như thết là tốt, đoan trang hiền thục mà lại phúc hậu; có thể yên tâm là có một cuộc đời an nhàn. Vạn nhất, nếu sống trong một xã hội tao loạn, có vì gia biến hay một hoàn cảnh đặc biệt nào đó mà phải lưu lạc bèo dạt hoa trôi thì cũng chỉ là nhất thời mà thôị Và cuộc sống cũng không quá lao đao lận đận như phần đông ca nhi, kỹ nữ khác.
Câu chuyện sau đây có thể chứng minh được cho điều đó:
Lý Sư Sư là một kỹ nữ danh tiếng ở kinh đô Khai Phong đời vua Tống Huy Tông. Mặt mày đầy đặn phương phi, tánh tình ôn nhu hoài thuận. Tuy là kỹ nữ nhưng rất chững chạc đoan trang.
Khách hàng chơi vặn mặc thảy đều tỏ ý tiếc cho nàng. Ai ai cũng nghĩ có lẽ nàng xuất thân con nhà đường hoàng nhưng vì một hoàn cảnh gì đó mà phải đem thân vào chốn kỹ viện. Do đó, tuy là kỹ nữ nhưng Lý Sư Sư rất được khách hào hoa tôn trọng.
Tiếng tăm nàng đến tai Huy Tông hoàng đế khiến nhà vua trẻ tuổi, đa tình này cũng háo hức muốn gặp nàng. Một hôm Huy Tông Hoàng đế cải dạng thường dân đến kỹ viện tìm nàng.
Lần đầu tiên gặp gỡ, Huy Tông cứ nghĩ rằng Lý Sư Sư cũng chỉ là một kỹ nữ như bao nhiêu kỹ nữ khác nên Hoàng Đế tỏ ra suồng sã với nàng. Lý Sư Sư liền bỏ đi, không tiếp. Nhà vua cho thị vệ chạy theo rỉ tai nàng, bảo cho nàng biết ông chính là đương kim Hoàng Đế. Dù biết là Hoàng Đế nhưng Lý Sư Sư cũng mặc, nhất định không thèm tiếp một người thô tục, có cữ chỉ khiếm nhã. Tống Huy Hoàng đế đành phải chiu thua kỹ nữ Lý Sư Sư và ra về.
Về sau nhà vua phải mất một thời gian khá lâu dài mới chinh phục lại được cảm tình của nàng kỹ nữ họ Lý ấỵ Rồi nhà vua cho triệu nàng vào cung.
Khi nhà Tống bị Mông Cổ xâm lăng, tướng Mông Cổ cho đòi Lý Sư Sư đến hầu rượu, nàng cũng nhất định không nghẹ Để tránh bị ô nhục, Lý Sư Sư bẻ cây trâm cài đầu nuốt vào cổ để tự tận...
Nghiêng Nước, Nghiêng Thành
Một hai NGHIÊNG NƯỚC, NGHIÊNG THÀNH
Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai.
(Câu 27, 28. Tài sắc Thúy Kiều)
"Ví chăng duyên nợ ba sinh
Làm chi những thói KHUYNH THÀNH trêu ngươi!".
(Câu 257, 258. Kim Trọng than thở)
"Lạ cho cái sống KHUYNH THÀNH
Làm cho đổ quán, xiêu đình như chơị"
(Câu 1301, 1302. Thúc Sinh đam mê Kiều)
Nhìn một cái xiêu thành người, nhìn một cái đổ nước ngườị Ý là muốn nói đến cái nhan sắc cực kỳ đẹp khiến người ta say mê đến mất thành mất nước mà cũng không haỵ
Câu này Nguyễn Du dịch lời ca của Lý Diên Niên trong tích Hán Vũ Đế tuyển người đẹp.
Năm Nguyên Sóc, Hán Vũ Đế cho xây dựng đền Minh Quang và kén chọn hai ngàn gái đẹp ở vùng Yên, Triệu đưa vào ở trong đó. Những người đẹp được tuyển chọn này chỉ tuổi từ mười lăm trở lên, nhưng quá ba mươi thì bị thải hồị
Ngoài Đền Minh Quang, Hán Vũ Đế còn nhiều nơi khác để chứa gái đẹp. Tổng cộng số gái đẹp của nhà vua này lên đến một vạn tám ngàn. Ấy mà Hán Vũ Đế vẫn còn cho là thiếu.
Một hôm ca nhân Lý Diên Niên hát cho Hán Vũ Đế nghe rằng:
"Bắc phương hữu giai nhân
Tuyệt thế nhi độc lập.
Nhất cố khuynh nhân thành,
Tái cố khuynh nhân quốc.
Ninh bất tri khuynh thành dữ khuynh quốc,
Giai nhân nan tái đắc".
(Phương Bắc có người đẹp
Tuyệt vời đứng riêng bậc
Một nhìn, người nghiêng thành
Hai nhìn, người nghiêng nước.
Há rằng chẳng biết nước thành nghiêng,
Chỉ vì người đẹp khó tìm được.)
Hán Vũ Đế bèn hỏi:
- Thế gian có người đẹp đến thế sao ?
Tả hữu thưa:
- Tâu bệ hạ, người đẹp trong bài ca ấy chính là cô em gái của Lý Diên Niên vậỵ
Hán Vũ Đế bèn ra lên cho Lý Diên Niên đưa em gái vào cung. Nhà vua rất sùng ái nàng và bắt cả triều thần phải gọi nàng là Lý phu nhân. Vua lại phong cho Lý Diên Niên từ chức Cẩn Giám lên chức Hiệp Đô Uý.
Lý phu nhân ở với Hán Vũ Đế hơn một năm thì sinh được một con trai, tức là Sương Ấp Vương sau nàỵ
Một thời gian sau Lý phu nhân bị bệnh nă.ng. Hán Vũ Đế tự đến thăm hỏi nhưng không được nàng tiếp. Nàng trùm chăn kín mít và nói với nhà vua:
- Thiếp bị đau nặng đã lâu, hình dung tiều tuỵ lắm, không dám đem cái nhan sắc héo úa ra mắt nhà vuạ Chỉ xin gởi lại nhà một người con trai và mấy người anh em.
Hán Vũ Đế nói:
- Phu nhân bệnh nặng e khó qua, hãy mở chăn nhìn ta mà ký thác con và anh em có phải hơn không?
Lý phu nhân vẫn trùm khăn kín mà nói:
- Theo lễ, đàn bà mặt mũi không sạch, không nên được trông thấy đấn quân phụ
Nhà vua cố nài nỉ:
- Phu nhân hãy ra mắt trẫm một lần này thôi, trẫm sẽ ban cho phu nhân nghìn vàng, cho con và anh em của phu nhân làm quan tọ
Lý phu nhân vẫn một mực khước từ:
- Cho làm quan là quyền ở nhà vua, không do sự ra mắt của thần thiếp.
Nói đoạn, Lý phu nhân quay vào vách, thở dài rồi nín lặng. Hán Vũ Đế cả giận, đứng phắt dậy bước ra ngay, không nói thêm tiếng nàọ
Các người thân thích biết chuyện, đến trách Lý phu nhân rằng:
- Sao quý nhân không mở mặt ra cho đấng quân vương trong thấy, rồi đem con và anh em ký thác có phải hơn không ? Sao làm cho nhà vua tức giận đến thế ?
Lý phu nhân đáp:
- Đàn bà là kẻ lấy nha sắc thờ ngườị Nay nhan sắc đã kém tất nhiên tình yêu phải phai nhạt. Tình yêu đã phai nhạt thì sẽ không còn ân huệ gì nữạ Bấy lâu nhà vua sủng ái ta là chỉ vì ta còn nhan sắc. Nay ta đã ốm nặng, nhan sắc tiều tuỵ, nếu để nhà vua trong thấy thì thử hỏi ngài còn yêu ta như trưỚc nữa không. Dĩ nhiên khi tình yêu không còn thì làm sao ngài còn thương đến anh em ta nữạ Nay ta không ra mắt nhà vua là muốn gởi gấm anh em một cách thiết tha vậỵ
Ít hôm sau Lý phu nhân từ trần. Hán Vũ Đế cho chôn cất nàng rất hậụ Nhà vua lại sai hoạ nhân vẽ ảnh nàng treo trong cung Cam Tuyền để ngày ngày nhìn ngắm. Nhà vua cũng phong cho các anh em của Lý phu nhân làm quan caọ
Hán Vũ Đế ngày đêm thương nhớ Lý phu nhân khôn nguôị Nhà vu sai người đào ao Côn Linh, đóng thuyền hình chim phượng để ở ao ấỵ Ngài tự chế bài hát, lên thuyền đi chơi bắt các cung nhân hát để giải buồn.
Một hôm, ca nhi hát bài "Lá rụng ve kêu" như sau:
"Xuyên vòng im bặt tiếng kêu
Thềm son mấy đợt bụi rêu lờ mờ
Phòng không lạnh ngắt như tờ,
Gió đưa lá rụng phất phơ cửa ngoàị
Bấy lâu tướng háo mong hoài,
Trông ai chẳng thấy, bùi ngùi lòng ta..."
Vũ Đế nghe bài hát càng buồn rầu thêm, sai lấy nến mỡ rồng soi trong khoang thuyền để tìm hình ảnh Lý phu nhân. Rồi ngài ôm mặt khóc nức nở như một đứa trẻ con ...
Tường Đông
Êm đềm trướng rũ, màn che
TƯỜNG ĐÔNG ong bướm đi về mặc ai
(Câu 37, 38. Nề nếp của Thúy Kiều và Thúy Vân)
"Sông hồ cửa khép cánh mây
TƯỜNG ĐÔNG hé mắt, ngày ngày hằng trông."
(Câu 283, 284. Kim Trọng đi tìm Thúy Kiều)
TƯỜNG ĐÔNG nghĩa đen là bức tường ở phía Đông, nghĩa bóng là nơi có gian nhân cư ngụ
Sách Mạnh tử có câu: "Du đông lân nhi lâu kỳ xử tử" (Trèo sang nhà láng giềng ở phía Đông để dụ dỗ con gái nhà người ta). Đường thi cũng có câu: "Đông lân Tống Ngọc tường" là để ám chỉ nơi trai gái giao tình với nhau vì chàng Tống Ngọc (1) người nước Sở thời Chiến quốc là một thanh niên đẹp trai, thơ hay phú giỏi và tánh tình trăng hoa, ong bướm, đã làm cho bao nhiêu người đẹp phải ôm mối hận tình với chàng tạ
Trong một bài phú tự tình gởi lên vua nước Sở, Tống Ngọc có viết:
"Thiên hạ chi giai nhân, mạc nhược Sở quốc
Sở quốc chi lệ giá, mạc nhược thần lý
Thần lý chi mỹ giá, mạc nhược thần đông gia chi tứ"
(Người đẹp trong thiên hạ không đâu bằng nước Sở.
Người đẹp trong nước Sở không đâu bằng ở xóm hạ thần.
Người đẹp trong xóm hạ thần không ai bằng nàng con gái láng giềng ở phía tường đông nhà hạ thần).
Nhà thơ Lý Bạch thời Đường cũng có câu:
"Tự cố hữu tự sắc
Tây Thi do đông lân".
(Từ xưa có nhan sắc
Tây Thi ở xóm đông).
Hai chữ Tường Đông đã có một trang tình sử lâm ly như sau:
Nước Sơ/ có loạn, nhà vua sai đại thần Vương Trung đem binh dẹp loạn. Vì chậm trễ việc quân, Vương Trung không cứu vãn được tình thế nên bị vua giáng chức, làm Thiên hộ vệ quân tại Nam Dương. Vương Trung đem cả gia quyến theo mình đến nhiệm sở mớị
Bấy giờ Vương Trung có người con gái rất đẹp, tên Vương Kiều Loan, chẳng những đẹp mà còn thông mình và rất giỏi văn mặc, cho nên đã tới tuổi cặp kê mà mắt xanh vẫn chưa để ai vàọ Vương Trung có người em gái tên Tào Di sớm bị goá bụa, nên đem về ở chung trong gia đình để sớm hôm bầu bạn với Kiều Loan.
Năm họ vào tiết Thanh Minh, Kiều Loan cùng Tào Di và thi nữ đi ngoạn cảnh bên ngoàị, Khi ra khỏi nhà thì Kiều Loan phát hiện ở phía tường đông có một chàng trai đang nhìn mình đăm đăm không chớp mắt. Đôi mắt của ai kia sao đầy vẻ tình tứ khiến tiểu thư họ
Vương không kihỏi bối rối trong lòng, đôi má ửng hồng e thẹn. Kiều Loan vội núp sau lưng người cô và giục Tào Di trở vào, không muốn đi chơi nữạ
Khi Vương Kiều Loan đã trở về nhà, chàng trai kia thở dài ngẩn ngơ tiếc rẻ. Chợt chàng trông thấy dưới một gốc hoa kia có chiếc khăn the của người đẹp đánh rơi lạị Chàng vội bước đến nhặt chiếc khăn lên, mùi hương còn thoang thoảng. Bỗng chàng nghe bên trong tường vào Vương phủ có tiếng động, rồi có bóng một thiếu nữ hiện rạ Chàng trai vội vàng núp vào một khóm hoa theo dõi bóng người con gáị Thì ra cô gái ấy là một cô hầu của tiểu thư Vương Kiều Loan, đi ra ngoài tìm chiếc khăn của tiểu chủ đánh rơi lúc nãỵ Chàng trai đứng lên và mạnh dạn đánh tiếng:
- Cô nương ơi, đừng tìm kiếm cho mất công., Chiếc khăn của tiểu thư đã vào tay kẻ khác rồị
Cô gái nhìn chàng trai lạ từ đầu đến chân và nhận thấy hàng có vẻ phong lưu tuấn tú, bèn đến gần kính cẩn hỏi:
- Thưa công tử, nếu quả thật công tử đã nhặt được chiếc khăn của tiểu thư tôi, thì dám xin công tử vui lòng cho xin lại Ơn ấy tiểu thư tôi chắc không quên.
Chàng trai không đáp. Cô gái nói tiếp:
- Xin ân nhân cho biết tôn danh để tiểu thư tôi còn tạ ơn
Chàng trai đáp:
- Tôi họ Tống tên Ngọc, người quận Ngô Châu, hiện cư ngụ ngay phía sau tôn phủ. Còn tiểu thư của nàng là ai vậy
- Dạ tiểu thư tôi tên Vương Kiều Loan, con gái của quan Thiên Hộ
Tống Ngọc cười:
- Tên của tiểu thư nàng thật đẹp, thế còn nàng tên gì?
Cô gái e thẹn đáp:
- Dạ, tiện nữ tên gọi Minh Hà.
Tống Ngọc cười, trêu chọc:
- Cả thầy lẫn trò đều đẹp cả. Vậy bây giờ tôi nhờ nàng trao cho tiểu thư Kiều Loan một bức thư có được không ?
Minh Hà ý không muốn nhận, nhưng sợ làm phật lòng Tống Ngọc thì chàng ta không trả lại chiếc khăn cho chủ mình, nên nói:
- Xin vâng, công tử cứ trao thư cho tôị
- Vậy nàng ở đây chờ tôi một chút, tôi sẽ quay trở lại ngaỵ
Tống Ngọc nói xong, quay gót đi liền. Một lúc sau chàng trở lại trao cho Minh Hà một tờ hoa tiên. Minh Hà thấy Tống Ngọc trao thư mà không trả khăn, trong lòng không vui nên nói:
- Công tử không trả khăn mà chỉ gởi thư, tôi không dám nhận đâu
Tống Ngọc cười nói:
- Nàng đừng lọ Nếu tiểu thư chịu phúc đáp thì tức khắc vật sẽ hoàn cố chủ.
Bất đắc dĩ Minh Hà phải nhận tờ hoa tiên của Tống Ngọc và quay vào phủ.
Vương Kiều Loan đang ngồi đợi Minh Hà trong phòng, cảm thấy lòng bồn chồn không yên.
Minh Hà vừa vào tới, Kiều Loan vội hỏi ngay:
- Thế nào, có tìm ra chiếc khăn của ta không?
Minh Hà ấp úng:
- Thưa tiểu thư, chiếc khăn đà lọt vào tay ... chàng công tử nhìn trộm tiểu thư lúc ban chiều rồị
Kiều Loan nghiêm mặt hỏi:
- Tai sao em không đòi lại cho ta ?
- Em có đòi nhưng chàng trai lần khân không chịu trả, lại còn gởi cho tiểu thư tờ hoa tiên này nữạ
Minh Hà vừa nói vừa lấy tờ hoa tiên trao cho Kiều Loan. Vương tiểu thư vừa nhận tờ hoa tiên vừa nói:
- Chàng trai ấy có xưng tên học và nói quê quán ở đâu không?
Minh Hà đáp:
- Chàng ta họ Tống, tên Ngọc, người Ngô quận. Hiện chàng ta cư ngụ sát vách sau phủ đường tạ
Kiều Loan có vẽ xúc động, mở tờ giấy ra xem. Trong tờ hoa tiên có bài thơ sau:
"Phạ xuất qui nhân phận ngoại hương
Thiên công giao phó hữu tình lang.
Ân cần kỳ thú tương tư cú
Nghi xuất hồng ty xuất động phòng".
(Khăn rơi mỹ nữ đượm mùi hương
Tạo hoá xui chi kẻ vấn vương
Gởi khúc tương tư tình tha thiết
Chỉ hồng buộc chặt mối lương duyên).
Kiều Loan xem xong bài thơ tứ tuyệt rồi nói:
- Từ nay em đừng đòi chiếc khăn ấy nữa mà sinh lôi thôị Nếu chàng có nhờ đưa thư nữa thì em cũng đừng nhận, coi như không có việc gì.
Tuy làm ra vẻ bình thản như thế nhưng thật ra lòng Vương Kiều Loan vô cùng xúc động.
Nàng đi nằm để trấn tĩnh lòng, nhưng chỉ một lúc sau ngồi lên đi quanh quẩn trong phòng. Rồi cuối cùng nàng lấy tờ hoa tiên ra đề thơ phúc đáp:
"Thiếp thân nhất điểm ngọc vô hà
Linh thị hầu môn tướng tướng gia
Tình ly hữu thân đồng đối nguyệt
Nhàn trung vô sự độc khán hoa
Biệt ngô chi hứa lai kỳ phượng
Thúy trúc nan dung nhập lãi hoa
Kỳ dữ dị hương cô lãnh khách
Mặc tương tâm sự loạn như ma"
(Thân em như khối ngọc trong lành
Khuê các sớm chiều với tuổi xanh
Ngày vắng dạo xem hoa dưới mát
Đem thanh thưởng thức nguyệt bên mành
Cành ngô phượng vĩ chen màu biếc
Khóm trúc ô môn đượm mảnh tình
Nhắn nhủ phượng xe người lữ khách
Đừng trao tâm sự rối ren lòng).
Vương Kiều Loan trao thơ cho Minh Hà, dặn đi ngõ sau trao cho Tống Ngọc và đừng để ai trong thấỵ Minh Hà theo lời dặn của chủ, ra ngõ sau và gặp Tống Ngọc. Chàng Tống hỏi:
- Vương tiểu thư có phúc đáp thư tôi chứ ?
Minh Hà gật đầu đáp:
- Có, nhưng công tử phải trả lại chiếc khăn trước đã.
Tống Ngọc cười nói:
- Tiểu thư cô đã phúc đáp thư; thì thiết tưởng chiếc khăn kia không còn cần thiết nữạ Cô hãy đưa thư cho tôi rồi sẽ haỵ
Minh Hà đành trao thư cho Tống Ngọc. Chàng Tống xem bài thơ của Vương Kiều Loan, rất khâm phục tài văn chương của nàng. Chàng ta nói:
- Cô hãy đợi tôi ở đây một chúc để tôi viết thư phúc đáp cho tiểu thự
Rồi chàng ta vào phòng viết một bài thơ tứ tuyệt đem ra đưa cho Minh Hà nhờ trao lại cho Vương Kiều Loan.
Từ đó, qua sự trung gian của Minh Hà, Vương Kiều Loan và Tống Ngọc thơ qua thơi lại luôn luôn. Và mối tình của hai người ngày càng thêm khắng khít.
Một thời gian sau, Kiều Loan gợi ý Tống Ngọc nên tính chuyện mai mối hỏi cưới nàng, nhưng Tống Ngọc cứ lần khân mãi, viện cớ song đường bận làm việc không rảnh rang.
Mặt khác, chàng ta lại tỏ ý muốn gần gũi Kiều Loan về thể xác.
Một hôm Tống Ngọc trèo tường vào vườn hoa trong phủ của Kiều Loan gặp nàng và tỏ ý muốn vào phòng nàng. Kiều Loan từ chối, Tống Ngọc đành ra về. Nhưng sau đó Kiều Loan lại sai Minh Hà đem cho Tống Ngọc một tờ hoa tiên. Chàng mở ra xem:
"Ám tương tế ngữ ký anh tài
Tháng hướng nhân tiên mạc loạn khai
Kim dạ hương khuê xuân bất toá
Nguyệt di hoạ ánh, ngọc nhân lai".
(Đôi lời xin ngõ cùng ai
Nỗi riêng chớ để người ngoài thị phi
Phòng xuân mở rộng đêm nay
Bông hoa rung động, gót hài rẽ sang).
Tống Ngọc xem xong lòng mừng vui như mở cờ. Đêm hôm ấy trời vừa sụp tối Tống Ngọc đã treo qua tường đông để đến với Kiều Loan. Lúc ấy Vương Kiều Loan đang đi đi lại lại trong phòng. Khi Minh Hà dẫn Tống Ngọc vào thì Kiều Loan nghiêm nét mặt sai Minh
Hà đi mời cô Tào Di đến để hội kiến. Tống Ngọc lòng đang rạo rực tưởng nghĩ đến chuyện vu sơn cùng người ngọc, bỗng thấy thái độ Kiều Loan nên đâu ra lo lắng, mặt mày xám ngắt.
Kiều Loan tỏ ý thương hại, mỉm cười nói:
- Thiếp vốn là người đoan chính, mong chàng cũng không phải là kẻ phàm phụ Sở dĩ ngày nay chúng ta yêu nhau là do sắc tài gắn bó. Đã yêu chàng thì thiếp còn tiếc chi nữa, song vườn xuân cánh bướm, biết lòng kia có giữ được lời nguyện ước cho chăng ?
Vậy chúng ta hãy cùng thề chung thủy với nhau đến đầu bạc răng long. Nếu không thề thì chàng chỉ là kẻ muốn ân aí mà không nghĩ đến nghĩ đá vàng.
Tào Di vào phòng, chứng kiến lời thề nguyện của Tống Ngọc và Kiều Loan. Sau đó, rượu và quả được dọn ra, Tào Di, Kiều Loan và Tống Ngọc ăn uống vui vầy say sưa đến khuyạ Tào Di cáo biệt. Kiều Loan và Tống Ngọc đưa nhau vào phòng bày cuộc ái ân.
Trời vừa tảng sáng, Kiều Loan thẹn thùng với tình lang.
- Cuộc đời và tấm thân thiếp đã trao cho chàng rồi, chỉ mong chàng giữ lấy lời thề để cành hoa không vì gió đông mà phai sắc nhạt hương. Từ nay về sau nếu có dịp thiếp sẽ sai Minh Hà đến đón chàng, chúng ta chớ nên phóng túng quá mà sinh ra điều dị nghị
Rồi Kiều Loan sai Minh Hà đưa Tống Ngọc ra về. Đôi mắt của người tỳ nữ đượm vẻ buồn u ẩn nào ai hiểu được nguyên do
Từ đó, đôi trai tài gái sắc không còn xướng hoạ thi thơ với nhau nữa; mà chỉ trao nhau tình yêu xác thịt Cứ vài bốn hôm Kiều Loan lại sai Minh Hà đi đón Tống Ngọc đến để ái ân.
Khổ thay, Minh Hà là một cô gái cũng đang độ phơi phới xuân tình, làm sao chịu đựng nổi cảnh yêu đương, ân ái của cô chủ mình và chàng trai hào hoa phong nhả kiạ Một ngày kia không cầm lòng được, Minh Hà đàn thố lộ lòng mình với Tống Ngọc. Thế là chàng trai phóng đãng ấy "cuỗm" luôn cô tớ gái của người tình. Cuộc tình tay ba vẫn âm thầm diễn ra theo thời gian, không ai hay biết trừ Tao Dị
Rồi một ngày kia, Tống Ngọc ngỏ ý cầu hôn Kiều Loan. Vương Thiên Hộ lâu nay đã từng nghe tiếng Tống Ngọc là một tay trăng hoa ong bướm, một tay đã bẻ biết bao cành thiên hương, nên nhất định không chịu gả Kiều Loan cho chàng. Nhưng Vương Trung có biết đâu rằng trong ba năm qua, tường đông nhà ông đã bị ong bướm quậy tưng bừng. Và chính con gái của ông là Kiều Loan cũng đã góp phần mua vui cho chàng trai đàng điếm Tống Ngọc.
Bị Vương Trung từ hôn, Tống Ngọc cũng buồn nên chàng cất bước giang hồ từ đó, mặc cho Vương Kiều Loan ôm mối tương tự Rồi Vương Kiều Loan ngã bệnh, ngày càng nặng thêm. Hình dáng gầy gò và sức lực ngày một kiệt dần đến mỗi người con gái đáng thương ấy phải lìa bỏ cõi đời ...
======================
(1) Tống Ngọc, người nước Sở thời Xuân Thu Chiến Quốc, học trò của Khuất Nguyên; lại là học trò giỏi nhất.
Tiểu sử của Tống Ngọc rất mơ hồ. Người ta chỉ biết rằng từ khi Khuất Nguyên chết, nước Sở còn lại có ba người rất giỏi về Sở từ, đó là Tống Ngọc, Cảnh Sai và Đường Lặc.
Tác phẩm của Tống Ngọc để lại gồm có các thiên Chiêu hồn, Đại Chiêu và Cửu biện cùng nhiều bài phú. Tống Ngọc có tài miêu tả, văn điêu luyện; mở đầu cho thế phú đời Hán về saụ
Sâm Thương
Nàng rằng: Nghĩa trọng nghìn non
Lâm Tri người cũ chàng còn nhớ không?
Sâm Thương chẳng vẹn chữ tòng
Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân
Sâm Thương, tên gọi trong dân gian là sao Hôm, sao Mai, là hai vì sao chẳng bao giờ trông thấy nhau, một đằng Đông buổi tối, một phía Tây ban sáng.. Truyện Thần tiên kể rằng:
Hàng năm, tại Thiên đình có hội Bàn Đào, tiên ông tiên nữ tề tựu dâng lễ vật, hái đào tiên chúc tụng Ngọc Hoàng. Tiên đồng Bảo Sâm theo hầu một tiên ông, ngọc nữ Thanh Thương theo hầu một tiên cô. Hai trẻ tình cờ, gặp gỡ , quen biết nhau rồi sinh tình. Trước ngày mở hội, đôi trẻ có chút thời gian bên nhau tình tư..
Một nhân vật thứ ba, tiểu đồng Trường Quang, cũng tình cờ gặp gỡ Thanh Thương, nhưng tình chỉ sinh một hướng, Thanh Thương đã yêu đậm Bảo Sâm mất rồi. Bị tình lờ, Trường Quang sầu thảm.
Đến ngày Bàn Đào khai hội, đàn ca xướng hát rộn ràng. Các tiểu đồng, ngọc nữ nhịp nhàng như vũ điệu, tay bưng khay, tay nâng chén ngọc hầu rượu các tiên ông tiên bà.
Thanh Thương, là ngọc nữ hát hay múa đẹp nhất, nên được chọn dâng chén cho Ngọc Hoàng. Nhưng tâm hồn nàng để lạc đâu đâu, đôi mắt cứ dõi tìm Bảo Sâm, nên sẩy tay đánh rơi cả khay ngà chén ngọc. Thanh âm ngọc vỡ tan hoang. Từ bàn dưới nhìn lên, Bảo Sâm thấy tai hoạ đang giáng xuống cho người yêu cũng sửng hồn, khay chén trên tay cũng đánh xoảng rơi xuống đất. Đàn ca xướng hát thanh thoát, bỗng nín bặt.,
Ngọc Hoàng xử tội ngay đôi trẻ:
- Đôi tiên đồng, ngọc nữ còn non tuổi mà lại dám bày trò yêu đương nơi cõi, tội đáng đày xuống trần gian cho làm một kiếp thú, sống trong núi thẳm rừng sâu, kiếp sau mới được đầu thai làm người ở luôn dưới cõi trầ.n...
Trường Quang không phạm lỗi chi cũng run lập cập khi Ngọc Hoàng đang xử tội người yêu.. một chiều; khi vưa nghe lơì kết tội đày xuống trần gian làm thú, không nén được đau thương, Trường Quang đã thét lớn: "Thanh Thương ơi, Thanh Thương ơi, ta nguyện theo nàng xuống trần gian. Ngọc Hoàng thêm giận, ừ thì muốn theo thì ta cho thỏa ước mơ, truyền cho đày tiểu đồng tình dại này đi chung một chuyến.
Các tiên ông tiên bà, thương cho ba trẻ tình si, chỉ vì thương yêu mà chuốc họạ Họ đồng thanh xin Ngọc Hoàng nương tay, chớ đày xuống trần gian, mà hãy cho ở lưu lạc đâu đó trên trời.
Lời câu xin của các tiên, Ngọc Hoàng nguôi ngoai cơn giận, phán lại lần cuối cho chúng làm hai ngôi sao, tuy ở chung cùng trời, nhưng không bao giờ được gặp nhau.
Nàng Thanh Thương làm sao Thương, là sao hôm, chỉ mọc lên ở hướng đông lúc về đêm; Bảo Sâm trở thành sao Sâm, là sao mai, mọc ở phía tây lúc trời hửng sáng.
Còn Trường Quang, sẽ được như ý, suốt đời tìm kiếm tình yêu, thì biến thành sao "vượt", bay đi xẹt lại trọn kiêp mà kiếm tìm.
Ca dao Việt Nam ta có câu:
Sao hôm chờ đợi sao mai
Trách lòng sao vượt nhớ ai băng chừng.
Sao vượt (sao băng) muôn đời vẫn mang theo điều mơ ước.
Ngày nay, có ai mong mỏi điều gì, hãy ngước nhìn lên trời đón ánh sao băng, điều ước mơ sẽ được toại nguyện. Nhưng còn sao Sâm, sao Thương, theo phán xử của Ngọc Hoàng phải ngàn nghìn trùng xa cách, đông tây, đêm ngày đuổi bắt nhau mà không gặp được .
Hôm nay mình giới thiệu về các điển tích trong lần đầu Kiều đánh đàn nhé :
So dần dây vũ dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung thương.
Khúc đâu hán sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau.
Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu,
Nghe ra như oán như sầu phải chăng!
Kê khang này khúc Quảng Lăng,
Một rằng lưu thủy hai rằng hành vân.
Quá quan này khúc Chiêu Quân,
Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia.
Ðây là những bản nhạc: Khúc chiến trường giữa Hán và Sở, khúc Tư Mã phượng cầu của Tư Mã Tương Như, khúc Quảng lăng của Kê Khang, khúc đi cống Hồ của Chiêu Quân. Mỗi khúc có một tính chất đặc biệt.
Khúc "Hán Sở chiến trường"
Tần Thuỷ Hoàng sau khi dẹp tan 6 nước: Yên, Tề, Sở, Nguỵ, Triệu, Hàn chấm dứt thời Chiến quốc (479- 220 trước DL)- cũng gọi là Thất hùng- thống nhất đất nước, lập nên nhà Tần. Nhưng vì chế độ nhà Tần quá khắc nghiệt, dân chúng nổi dậy chống lại. Trước có Trần Thắng, Ngô Quảng. Bước đầu dân nghèo chỉ chặt cây làm binh khí và dùng gậy làm cờ. Nhưng đều bị quân Tần đánh vỡ. Chỉ còn lại lực lượng của Lưu Bang ở đất Bái và hạng Võ ở đất Ngô chống cự được với quân Tần. Sau Hạng Võ đánh bại được tướng Tần là Chương Hàm ở đất Cự Lộc (tỉnh Hà Bắc), Lưu Bang thừa dịp, đem binh thẳng đến Hàm Dương (kinh đô nhà Tần) dứt được nhà Tần. Nhưng rồi qua phân làm hai nhà: Hán (Lưu Bang) và Sở (Hạng Võ) tương tranh.
Sở Hạng Võ có tướng tài, tham mưu giỏi mà không biết dùng. Hán Lưu Bang nhờ biết dùng người nên có nhiều bực hiền tài đến phò tá, như Tiêu Hà, Hàn Tín, Trương Lương được gọi là Tam Kiệt... nên đánh thắng được Sở, lên ngôi Vua, thống nhất đất nước (206 trước DL)
Cuộc tương tranh giữa Hán, Sở chỉ khoảng 10 năm nhưng cường độ chiến tranh lúc nào cũng khốc liệt. Cuối cùng, Sở Hạng Võ bị tướng soái của Hán Lưu Bang là Hàn Tín bao vây tại núi Cửu lý ở phía bắc thành Từ Châu. Tuy lâm vào tình thế nguy ngập, thiếu lương thảo nhưng bên cạnh vua Sở còn 8.000 tử đệ theo từ lúc ban đầu, ở vào lúc cùng, họ quyết tử chiến mở con đường máu, thẳng về Giang Ðông tức đất cũ, tu chỉnh binh mã, dựng lại thế lực để tiếp tục cuộc chiến đấu.
Như vậy là một bất lợi cho Hán, dầu có đại thắng bằng binh lực nhưng phải trả một giá rất đắt bằng xương máu. Vì thế, Trương Lương hiến kế là tìm cách phân tán 8.000 tử đệ để cô lập Hạng Võ. Có thế cuộc chiến thắng đỡ bớt hao sinh mạng. Trương Lương liền thừa lúc đêm khuya thanh vắng của tiết cuối thu lạnh lẽo, đi qua lại từ trên núi Kê Minh đến núi Cửu lý, thổi tiêu rồi hát. Trương Lương lại tuyển quân Hán học tiếng nước Sở cho hát bài "Bi ca tán Sở" do Trương soạn lấy.
Canh khuya đêm vắng, tiết trời lạnh lẽo, lá vàng rụng bay lả tả, tiếng tiêu thâm trầm, giọng hát ai oán gợi lòng thương nhớ gia đình cha mẹ già, vợ yếu con thơ... vọng vào dinh Sở. Quân Sở , tám ngàn tử đệ vốn người nước Sở, lìa quê nhà theo Hạng Võ nay gặp phải gian nguy, mạng sống như ngàn cân treo phải chỉ mành... nên trước chỉ buồn bã than thở, sau cùng càng thấm thía nước mắt đầm đìa, rồi bàn nhau bỏ trốn. Bên ngoài, Hàn Tín khéo léo nới rộng vòng vây để quân Sở tự do ra đi.
Chỉ trong ba đêm, tám ngàn tử đệ cùng quân sĩ các dinh trại của Sở, mười phần bỏ trốn hết bảy, tám. Cuối cùng, Hạng Võ phải từ biệt vợ là Ngu Cơ, cùng uống chén rượu buồn, cất tiếng hát một cách tuyệt vọng:
Lực bạt sơn hề khí cái thế
Thời bất lợi hề chuy bất thệ
Chuỳ bất thệ hề khả nại hà?
Ngu hề Ngu hề khả nại hà?
Tạm dịch:
Sức nhổ núi chừ khí hơn đời
Thời bất lợi chừ ngựa chẳng đi
Ngựa chẳng đi chừ biết làm sao?
Ngu chừ, Ngu chừ biết làm sao?
Ngu Cơ càng cảm động, cất giọng hoà lại:
Hán binh dĩ lược địa
Tứ diện Sở ca thinh
Ðại vương ý khí tận
Tiện thiếp hà biểu sinh
Tạm dịch:
Binh Hán chiếm lấy đất
Bốn mặt tiếng Sở kêu
Ðại vương y khí hết
Mạng sống thiếp phải liều
Ngu Cơ cầm gươm tự tử
Thế rồi Vua Sở Hạng Võ một người một ngựa đánh mở con đường máu, thoát khỏi vòng vây chạy đến bên sông Ô, nhưng không qua được sông, cuối cùng tự tử.
"Khúc Hán Sở chiến trường", "tiếng sắt tiếng vàng" là tiếng những binh khí bằng kim loại va chạm nhau. Tiếng đục (sắt), tiếng trong (vàng), nghe đàn mà cảm thấy như nghe TIẾNG GƯƠM GIÁO CHẠM MẠNH, SÁT PHẠT GIỮA CHIẾN TRƯỜNG. Ý nói khúc đàn hùng tráng, rộn rã hoà hợp với tâm hồn rộn rã, tưng bừng của người gảy đàn như mở màn, chào đón một cuộc hội ngộ của đôi bạn son trẻ đắm đuối yêu nhau.
Khúc "Tư Mã phượng cầu"
tức là khúc "Phượng cầu hoàng" (chim phượng trống tìm chim phượng mái) của Tư Mã Tương Như đàn tỏ tình với nàng Trác Văn Quân.
Tư Mã Tương Như tự Trường Khanh, người ở Thành Ðô đời vua Cảnh Ðế (163- 149 trước DL) nhà Hán. Người đa tài, văn hay đàn giỏi.
Khi lìa quê lên Trường An (kinh đô nhà Hán) lập công danh, đến con sông đầu làng, Tương Như viết trên cầu một câu: "Bất thừa cao xa tứ mã, bất phục quá thử Kiều" (không ngồi xe cao bốn ngựa, không qua lại cầu này nữa). Vì quyên tiền, Tương Như được làm một chức quan Lang.
Vốn con người hào hoa phong nhã rất mực, làm quan một thời gian sinh chán, cáo bịnh từ quan qua chơi nước Lương, làm bài "Ngọc như ý" được vua nước Lương ban cho một cây đàn lục ỷ, trên khắc bốn chữ "đồng tử hợp tinh", lại trở về đất Thục. Ðến đâu, Tương Như cũng dùng bút mực và cây đàn để giao thiệp bằng hữu.
Khi đến đất Lâm cùng, Tương Như vốn sẵn quen thân với quan Lịnh ở huyện là Vương Cát nên đến chơi. Cát lại mời Tương Như cùng đi dự tiệc ở nhà Trác Vương Tôn là viên ngoại trong huyện. Nghe tiếng Tương Như đàn hay nên quan huyện cùng Trác Vương Tôn yêu cầu Tương Như cho thưởng thức một bài.
Trác ông vốn có người con gái rất đẹp tên Văn Quân còn trẻ mà sớm goá chồng, thích nghe đàn. Tương Như được biết, sinh lòng yêu mến, nhân đó định trêu nàng nên vừa đàn vừa hát "Khúc Phượng cầu hoàng":
"Phượng hề phượng hề quy cố hương
Ngao du tứ hải cầu kỳ hoàng
Thời vị ngô hề vô sở tương
Hữu diện thục nữ tại khuê phường
Thất nhĩ ngân hà, sầu ngã trường
Hà duyên giao cảnh vi uyên ương
Tương hiệt ương hề cộng cao tường"
Nghĩa:
"Chim phượng, chim phượng về cố hương
Ngao du bốn biển tìm chim hoàng
Thời chưa gặp chừ luống lỡ làng
Hôm nay bước đến chốn thênh thang
Có cô gái đẹp ở đài trang
Nhà gần người xa não tâm tràng
Ước gì giao kết đôi uyên ương
Bay liệng cùng nhau thoả mọi đường"
(Bản dịch của Trúc Khê)
Tiếng đàn lảnh lót, giọng hát thâm trầm, ý đầy tình cảm, con người hào hoa phong nhã, Văn Quân đứng nép bên trong nghe tiếng nghìn người, biết người gợi ý đến mình nên lòng sinh bồi hồi cảm xúc. Rồi một đêm, nàng bỏ nhà đi theo tiếng gọi của tình yêu. Tương Như đưa nàng về nhà mình. Nhà quá nghèo, gió lộng bốn bề. Ông già họ Trác quyết định từ con.
Tương Như nghèo nàn buồn bã, đem chiếc áo cừu túc sương đi cầm cho người ở chợ, để mua rượu về cùng Văn Quân đối ẩm. Văn Quân ôm đầu, khóc nói: "Ta xưa này giàu có, nay đến nỗi phải đi cầm áo mua rượu, buồn biết chừng nào!"
Thế rồi, vợ chồng mở một quán nấu rượu. Văn Quân giữ việc nhóm lò nấu rượu, còn Tương Như thì mặc quần cộc làm lụng rửa vò hủ ở chợ.
Sau Hán Võ đế đọc bài "Tử hư phú" của Tương Như, khen tài mới vời vào triều, ban chức quan Lang. Vì muốn thông sứ các dân tộc miền Tây nam, nhà vua phong chức Trang Lang tướng, cầm cờ tiết mao đi sứ. Tương Như vào đến đất Thục, quan lại từ dưới đến Thái thú đều ra tận ngoài thành tiếp rước, quan huyện Lịnh thì vác cung nỏ đi tiền khu; người người đón tiếp long trọng. Trác Vương Tôn bấy giờ không còn dám khinh thường chàng rể nữa. Nhưng Tương Như làm quan ít lâu lại chán, cáo bịnh lui về quê.
"Khúc Tư Mã phượng cầu" tức là khúc "Phượng cầu hoàng" mà Tư Mã Tương Như gảy tỏ tình với Trác Văn Quân. Ðây là một khúc đàn tình tứ lãng mạn khá đẹp.
Trong "Bích Câu Kỳ ngộ" của Vô Danh, có câu:
Cầu hoàng tay lựa nên vần
Tương Như lòng ấy Văn Quân lòng nào
Qua phút từng bừng rộn rã "tiếng sắt tiếng vàng chen nhau" như "Hán Sở chiến trường", thì bây giờ tình cảm chuyển sang thâm trầm, dịu dàng, đằm thắm, thiết tha, chứa chan mộng đẹp lâng lâng của một mối tình đầu như nụ hoa tình chớm nở buổi sương mai .
Khúc "Quảng lăng":
"Kê Khang nầy khúc Quảng lăng
Một rằng Lưu thuỷ hai rằng Hành vân"
(câu 477 đến 478)
Trên đồ sứ Trung Hoa, ta thường thấy vẽ 7 cụ già ngồi bên rừng trúc. Kẻ đánh cờ, gảy đàn, thổi tiêu, người uống rượu ngâm thơ... trông vẻ tiêu diêu tự toại. Ðó là hình ảnh "Trúc lâm thất hiền" (bảy ông hiền trong rừng trúc) đời nhà Nguỵ (220- 264). Kê Khang là một trong 7 ông này.
Kê Khang vốn người có tính cao khiết, giàu lòng nghĩa hiệp và cùng là một người có biệt tài về các môn: cầm, kỳ, thi, họa. Một điều lạ hơn hết là mặc dầu có tài như vậy nhưng ông không học qua một ông thầy nào. Từ nhỏ đến lớn, ông có công tự học, rèn luyện mà nên. Ông vốn họ Khuê, người đất Thương Ngu, huyện Cối Kê (nay là huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang). Vì một sự thù oán do người gây nên, ông phải dời về ở ẩn huyện Hoa Dương, tỉnh An Huy. Gần chỗ ông ở có núi Kê (Kê Sơn) nên ông lấy tên Kê làm họ.
Kê Khang cũng như sáu người bạn kia đều thích an nhàn dật lạc, say mê đạo Lão, có người bảo: "Ba ngày không đọc "Ðạo đức kinh" thì miệng thấy hôi". Ông có ra làm quan đến chức Trung tán Ðại phu, nhưng luôn chê vua Thang, vua Võ, Khinh Văn Vương và Khổng Tử. Thơ ông có giọng triết lý:
"Mục tống phi hồng
Thủ huy ngũ huyền
Phủ ngưỡng tự đắc
Du tâm thái huyền"
Nghĩa:
"Mắt tiễn hồng bay
Tay gảy năm dây
Cúi ngửa tự đắc
U huyền thích thay"
(Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê)
Kê Khang làm quan một thời gian rồi từ quan, mai danh ẩn tích để hưởng thụ tiêu diêu lúc về già. Nhưng thảm thay, ông muốn tránh khỏi điều phiền luỵ ở cõi trần thì lại còn lận đận, khổ luỵ vì trần.
Từ quan, Kê Khang sống một cuộc đời ẩn dật, ngày ngày ngao du sơn thuỷ, hái thuốc, vui say với vần thơ điệu đàn. Bấy giờ nhà Nguỵ họ Tào suy vi, Tư Mã Chiêu có ý muốn lật đổ nên tìm mọi cách trừ khử những phe phái chống đối. Lúc ấy ở huyện Ðông Bình có người tên Lữ An vì ngưỡng mộ Kê Khang nên tìm đến ra mắt. Hai người kết bạn thâm giao. Không ngờ An có một người anh họ tên Lữ Tốn vốn bộ hạ thân tín của Tư Mã Chiêu, ỷ thế hoành hành, thấy vợ của Lữ An xinh đẹp, muốn chiếm đoạt nên bắt An hạ ngục.
Vì tình bạn, Kê Khang đứng ra minh oan. Nhưng rồi cũng bị bọn quyền thần bắt giam. Kê Khang vốn thuộc con rể trong thông thất nhà Nguỵ, nên họ muốn tìm cách trừ tuyệt. Chúng lại dựng chứng Kê Khang dám khinh chê vua Thang, vua Võ, Văn Vương, Khổng Tử là có ý phản loạn nên kết án tử hình.
Kê Khang vốn có tài đàn. Khúc "Quảng Lăng" do ông sáng tác, đánh lên nghe lưu loát, thánh thót như nước chảy (lưu thuỷ), mây bay (hành vân). "Lưu thuỷ" và "hành vân" là giải thích cách điệu lưu loát của khúc Quảng lăng. Cũng như tiếng đàn thánh thót của Kiều như nước chảy mây bay chẳng khác gì khúc "Quảng lăng" của Kê Khang, một tay đàn kỳ diệu.
Tình cảm của người gảy đàn cũng chuyển biến, biểu lộ bằng khúc đàn.
"Quá quan này khúc Chiêu Quân"
Qua "khúc Quảng Lăng" thánh thót, man mác như nước chảy mây bay,cuối cùng Kiều chuyển sang:
"Qúa quan nầy khúc Chiêu Quân
Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia"
(câu 479 đến 480)
Chiêu Quân tên Vương Tường, người đất Tỷ Quy thuộc Nam quận, được tiếng là "trầm ngư", một trong "Tứ đại mỹ nhân" ở cổ Trung Hoa. Nàng bị tuyển vào cung đời Hán Nguyên đế (48- 33 trước DL). Lúc bấy giờ vua Hán có đến 3.000 mỹ nữ trong cung nên không thể nào biết mặt hết được. Vua truyền tên thị vệ Mao Diên Thọ bảo hoạ sĩ vẽ hình tất cả những cung nữ, để vua xem và chọn làm hậu cung khi cần đến.
Mao Diên Thọ thừa nước đục thả câu để ăn hối lộ cung nữ. Nếu ai đút lót tiền thì truyền thần mặt xinh đẹp càng lộng lẫy để dâng lên nhà Vua. Cung nữ đành bằng lòng vì nghĩ rằng biết đâu nhờ đó mà được hưởng chút ơn mưa móc của quân vương, cho cuộc đời tài sắc của mình không phải quá phủ phàng ghẻ lạnh. Riêng Chiêu Quân đã có một sắc đẹp hơn các cung phi, lại có tính tự trọng, ghét bọn tham quan nên không chịu đút lót tiền mà còn xỉ vả nặng lời Mao Diên Thọ trước mặt đông người. Mao Diên Thọ xấu hổ càng căm giận, tìm cách ác độc trả thù. Do đó, khi nhận bức ảnh Chiêu Quân do hoạ sĩ trao cho, hắn lấy viết lén chấm dưới khoé mắt ảnh Chiêu Quân một chấm làm thành nốt ruồi.
Nhìn bức ảnh Chiêu Quân, Hán Nguyên đế rất hài lòng. Nhưng Mao Diên Thọ lại sàm tấu cho rằng Chiêu Quân tuy đẹp nhưng vì có nốt ruồi dưới khoé mắt mà sách tướng gọi là "thương phu trích lệ", đó là nốt ruồi sát chồng. Nhà Vua nghe lời nên chẳng nghĩ gì đến Chiêu Quân.
Chiến tranh giữa nhà Hán và Hung Nô.
Hán đại bại cầu hoà. Thiền Vu, chúa Hung Nô buộc Hán Nguyên đế phải cống phẩm vật và một cung phi tuyệt sắc mới chịu bãi binh. Trong tình thế nguy của đất nước, Nguyên Ðế phải đồng ý.
Mao Diên Thọ vừa ghét Chiêu Quân vừa sợ việc làm đòi ăn hối lộ và dối vua bị bại lộ, nên mưu với bọn gian thần tâu với nhà vua, đem Chiêu Quân đi cống. Nguyên Ðế bằng lòng.
Nhưng đến lúc Chiêu Quân vào triều bái yết nhà vua để theo sứ giả Hung Nô ra đi, thì nhà vua bấy giờ mới trông rõ mặt. Nốt ruồi đâu chẳng thấy mà chỉ là một tuyệt thế giai nhân, một trang quốc sắc thiên hương, còn hơn hình ảnh trong bức hoạ truyền thần qua nét bút kỹ xảo của một hoạ sĩ. Nhà vua vừa luyến tiếc, vừa tức giận, bấy giờ mới rõ mưu mô gian xảo, thâm độc của Diên Thọ, định đem trị tội. Thọ hay được, vượt biên trốn sang đầu hàng Hung Nô.
Sự thực chán chường rồi, không thể thay người khác được vì sứ giả Hung Nô đã nhận được mặt của Chiêu Quân.
Luyến tiếc người ngọc, xót thương phận liễu bồ bao năm giam mình trong cung lạnh, âm thầm với số kiếp phủ phàng, nhưng vì thế nước yếu hèn nên Hán Nguyên Ðế đành cắt đứt mối tình, trao người ngọc cho kẻ khác. Nhà vua chỉ còn bước xuống ngai vàng đến sân chầu, run run cầm lấy tay Chiêu Quân nghẹn ngào nói qua dòng nước mắt trong buổi chia ly:
- Ta có lỗi với nàng. Ta có tội với nàng! Vô tình ta trở thành con người tệ bạc.
Chiêu Quân cảm động, hai hột lệ đọng trên khoé mắt, ngậm ngùi:
- Thần thiếp đội ơn Bệ hạ. Hồng nhan bạc phận là một lẽ thường. Kiếp này duyên đã lỡ, kiếp khác nguyện đền bồi. Thần thiếp bao giờ cũng ghi lòng tạc dạ đối với tình nghĩa của đấng quân vương!
Thế là Chiêu Quân từ biệt nhà vua, xứ sở quê hương, lên xe theo đoàn quân hậu vệ Hung Nô, để vượt qua ải biên thuỳ Nhạn Môn sang Hồ. Nỗi thương nước nhớ nhà, nỗi giận kẻ gian thần, xót xa thân bồ liễu, có lúc trên đường dài thăm thẳm, bầu trời man mác khói toả mây trắng chập chùng, nàng truyền dừng xe, quay mặt hướng về cố quốc, gảy một khúc đàn ly biệt. Tiếng đàn tỳ bà não nuột ai oán. Những kẻ theo đưa ai cũng đau lòng sa nước mắt. Cây cỏ bên đường cũng héo tàn gục xuống mặt đất như để xớt thảm chia sầu.
Chiêu Quân chẳng những có sắc mà còn có tài đàn hay thơ giỏi. Nhìn một cánh chim lẻ bạn bạt gió về chiều, nàng xót xa cảm cho thân thế mình cất giọng ngâm:
Cánh én cô đơn đượm tủi sầu
Ngang trời gió cuốn bạt về đâu?
Quan san ngàn dặm vương thương nhớ
Hồ, Hán từ đây cách biệt nhau
Và:
Mây trắng trời trong gió ngạt ngào
Hồn hoa mờ mịt dưới trăng sao
Ðêm đêm thổn thức đêm đêm mộng
Có phải trời xanh cợt má đào!
Và, khi mùa thu đến. Nhìn trời thu, mây thu, sắc thu nhuộm úa lá vàng, dưới bầu trời ảm đảm, lá vàng rơi lả tả, bài "Thu phong oán" của Chiêu Quân còn truyền tụng do một tình cảm dạt dào sâu đậm của một kỷ nữ ly hương:
Thu mộc thê thê
Kỳ diệp huy hoàng
Hữu điểu xử sơn
Tập ư bào tang
Dưỡng dục mao vũ
Hình dung sinh quang
Kỳ đắc thanh vân
Thượng du khúc phường
Ly cung tuyệt khoáng
Thân thể tồi tàng
Chí niệm ức chẫm
Bất đắc hiệt ngoan
Tuy đắc ẩm thực
Tâm hữu hồi hoàng
Y hà ngã độc
Vãng lai biến thường
Thiên phiên chi yếu
Viễn tập Tây Khương
Cao sơn nga nga
Hà thuỷ ương ương
Phụ hề mẫu hề
Ðạo lý du trường
Ô hô ai tai
Ưu tâm trắc thương!
Tạm dịch:
Cảnh thu hiu hắt lá thu vàng
Trên đỉnh non cao đó rõ ràng
Có một chim kia hay đáo để
Ở ăn tự lúc mới ra giàng
Ra giàng đã đủ cánh lông bay
Thấy rõ hình dung quý giá thay
Trên nóc lầu cao đà đổ xuống
Chín từng mây thẳm đã tung bay
Tung bay nhưng khốn biết sao rày
Sự thế than ôi nỗi nước này
Nỗi nọ đường kia khôn tả xiết
Gan sầu ruột héo ngỏ ai hay!
Ai hay cho khúc đoạn trường này
Cho nỗi quan hoài ở chốn đây
Uống uống ăn ăn khôn đáp lại
Những hờn những oán những sầu cay!
Sầu cay riêng nghĩ xiết bàng hoàng
Biết đến bao giờ hận mới tan
én nọ tung bay xập xè cánh
Ðường xa mấy mấy dặm quan san
Quan san thăm thẳm nỗi lòng đau
Biển rộng non cao chất tủi sầu
Vòi vọi đường xa muôn dặm cách
Mưa nắng sân Lai xót dãi dầu!
Dãi dầu ai hỡi thấu cho chăng?
Lấp đặng cho ai những bất bằng
Những nhớ những thương tầy núi biển
Tình thu chan chứa hận sầu vương
(Bản dịch của Thái Bạch)
Khi đến đài Lạc nhạn, Chiêu Quân bắt được chim nhạn, liền xé lụa cắn móng tay lấy máu viết thư, buộc vào chân nhạn rồi thả cho bay đi, mong nhờ chim mang tin về cố quốc. Nhìn cánh nhạn bay, nhìn dòng sông Hắc Thuỷ âm thầm trôi chảy, nàng tê tái lòng, thở dài:
Thủy hà sóng lạnh gió đìu hiu
Cánh nhạn lê thê giải nắng chiều
Thấp thoáng mây về nơi lữ thứ
Mơ màng một giấc mộng cô liêu
Ngâm thơ xong, nàng lao mình xuống sông Hắc Thuỷ!
Trong tác phẩm "Lục Vân Tiên" của cụ Nguyễn Ðình Chiểu, có câu:
Chiêu Quân xưa cũng cống Hồ
Bởi người Diên Thọ hoạ đồ cho nên
"Quá quan nầy khúc Chiêu Quân" tức là khúc đàn của Chiêu Quân gảy khi qua cửa ải của biên giới hai nước Trung Hoa (Hán) và Hồ (Hung Nô) trên đường sang cống Hồ
Một khúc đàn buồn não ruột, ai oán để kết thúc cuộc hội ngộ của đôi bạn tình vừa tưng bừng rộn rã, êm đềm thánh thót lại chan chứa hận chia ly! .
Thứ Năm, 27 tháng 3, 2014
Sống trụ son sao - Tiễn dặn người yêu
Nguyễn
Khôi là nhà thơ được chúng tôi tuyển vào bộ THI NHÂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI.
Sự nghiệp của anh gồm có thơ ca, biên khảo và dịch thuật. Về phương
diện dịch thuật anh có công trình Sống Chụ Son Sao rất có giá.
Truyện
thơ Tiễn dặn người yêu (Sống Chụ Son Sao) là một thiên trường ca trữ
tình kết hợp giữa truyện dân gian và thơ ca dân gian. Theo truyền
thuyết, đây là câu chuyện tình của một đôi trai gái ở bản Panh và bản
Sái thuộc xã Tranh Đấu, huyện Thuận Châu (tức Mường Muổi, Sơn La ngày
nay). Sống Chụ Son Sao là đỉnh cao của văn học Thái đen (Tây Bắc Việt
Nam) biểu trưng cho ngôn ngữ Thuận Châu, Mường La. Ra đời trong xã hội
thịnh trị của thế kỷ XVII ở vùng Tây Bắc Đại Việt, ngôn ngữ thơ đã đạt
đến trình độ điêu luyện, hầu hết các thể thơ Thái thông dụng đã được sử
dụng trong Sống Chụ Son Sao, từ thể “Khắp Bắc” câu dài 11, 12 chữ, đến
thể “Khống khái” câu ngắn 5, 6 chữ. Các thể thơ này được dùng xen kẽ với
nhau khá nhuần nhuyễn.
Tiễn
dặn người yêu - áng thơ tuyệt diệu xin được tóm tắt như sau : Một đôi
nam nữ sinh ra cùng lứa. Khi đến tuổi cập kê, họ bén duyên nhau, chàng
trai sắm lễ vật sang nhà dạm hỏi. Nhưng bố mẹ không ưng, chê nghèo, ép
gả cô cho người khác giàu và ở một bản xa. Chàng trai thất tình, đeo
nặng nỗi buồn thương, phẫn chí bỏ sang Lào đi buôn mong kiếm đủ bạc vàng
chuộc lại người yêu. Nhưng chợ đời đâu dễ kiếm tiền, chàng trai lam lũ
vật lộn gian nan ở quê người. Là phận gái, cô dâu đau buồn vẫn không
vượt qua bức tường lễ giáo, cam chịu cho số phận an bài, buộc phải lấy
một kẻ xa lạ. Thấm thoắt sáu bảy năm trời, đã hết hạn ở rể của chồng,
sau nhiều lần cố trì hoãn chờ người yêu trở về, cô đành nhắm mắt đưa
chân bước đi đến người nhà làm dâu. Đúng ngày vu quy, thình lình người
yêu cũ về đến nhà. Bao ước vọng tan tành. Không thể xoay chuyển tình
thế, chàng dành cải trang thành khách đưa tiễn dâu về nhà chồng để dọc
đường tranh thủ than thở tâm tình với người yêu cho vơi nỗi cay đắng.
Chàng và nàng đau khổ hẹn thề rằng không lấy được nhau thời trẻ sẽ tìm
mọi cách để lấy cho được nhau lúc về già. Cuối cùng, cái ngày ước nguyện
định mệnh đã thành. Họ gặp nhau trong cảnh ngộ bi thương. Sau hai đời
chồng, nàng bị người chồng thứ hai đem ra chợ bán và oái oăm thay được
người tình xưa tình cờ đổi lấy bằng một nắm lá dong gói bánh! Từ đó, họ
mới được thật sự sống trong hạnh phúc vợ chồng.
Thông
qua mối tình đẫm đầy nước mắt của hai nhân vật chính, những phong tục
tập quán, bao đời chi phối nhân duyên, bao nỗi lao đao thăng trầm, những
buồn vui, sướng khổ… được dồn nén trong thiên bi tình sử này và nó đã
trở thành bộ từ điển bách khoa của đời sống tinh thần dân tộc Thái.
Người Thái thuộc và hát ”Tiễn dặn người yêu” trong những cảnh huống
tương thích giống như người Kinh thuộc và bói Kiều vậy.
Đã
từng sống 21 năm ở Tây Bắc, lòng quê Quan họ thấm đượm hương sắc Mường
bản, Nguyễn Khôi (Trai Đình Bảng) đã hóa thân vào chàng trai Thái để
dịch, chuyển thể song thất lục bát tập đại thành của văn học Thái ra
tiếng Việt. Chúng ta có thể khảo sát công trình công phu đó của nhà thơ :
1. Nguyên văn tiếng Thái :
“Cộp chụ tạu cáy khăn
Pha lăng phăn mữa xú hườn hươn chọi
Hên tò, mek dắn dọi lồng tồng xí puông
Mươi luông tặp cháy cá hươn ông pêng piếng
Tả chụ pên niếng nắc hặc pên niếng niêu
Hứa chaư điêng bánh xong xữ đảy”
Pha lăng phăn mữa xú hườn hươn chọi
Hên tò, mek dắn dọi lồng tồng xí puông
Mươi luông tặp cháy cá hươn ông pêng piếng
Tả chụ pên niếng nắc hặc pên niếng niêu
Hứa chaư điêng bánh xong xữ đảy”
Cầm Cường dịch :
Bên nhau tận thâu đêm gà gáy
Đeo giấc mơ về tới nhà, trăng xế đầu núi
Màn sương buông đồng làng làm bốn mảng
Sương lạnh sa mái nhà “ông” thành tảng
Lời tình xôi nén chặt
Thương tình xôi nén chắc vào xôi
Mảnh tim này ai nỡ xẻ làm đôi.
Đeo giấc mơ về tới nhà, trăng xế đầu núi
Màn sương buông đồng làng làm bốn mảng
Sương lạnh sa mái nhà “ông” thành tảng
Lời tình xôi nén chặt
Thương tình xôi nén chắc vào xôi
Mảnh tim này ai nỡ xẻ làm đôi.
Nguyễn Khôi chuyển thể :
Có đêm chuyện chừng quên gà gáy
Đeo mộng về trăng rải như mơ
Mù dâng sương tỏa mịt mờ
Tơ duyên xe lối hẹn hò bền lâu.
Đeo mộng về trăng rải như mơ
Mù dâng sương tỏa mịt mờ
Tơ duyên xe lối hẹn hò bền lâu.
2. Nguyên văn tiếng Thái :
“Nham bok pục, đất bok pục nằng cong
Nhám bók tong, đất bók tong nằng thả
Nham bók mạ, đất bók mạ nằng thả hướm lay”
Nhám bók tong, đất bók tong nằng thả
Nham bók mạ, đất bók mạ nằng thả hướm lay”
Cầm Cường dịch nghĩa :
Mùa hoa bưởi, ngắt hoa bưởi ngồi trông
Mùa hoa vông, ngắt hoa vông ngồi chờ
Mùa hoa mạ, ngắt hoa mạ ngồi ngóng đợi hoài.
Mùa hoa vông, ngắt hoa vông ngồi chờ
Mùa hoa mạ, ngắt hoa mạ ngồi ngóng đợi hoài.
Nguyễn Khôi chuyển thể :
Cho dù đã vợ người ta
Đã yêu xin xẻ lòng chờ đợi nhau
Mùa hoa bưởi, hoa ngâu hẹn đợi
Hoa mạ vàng chờ tới tàn phai
Hoa tàn em nhúng sương mai
Hai mươi năm gói khăn mùi còn thơm.
Đã yêu xin xẻ lòng chờ đợi nhau
Mùa hoa bưởi, hoa ngâu hẹn đợi
Hoa mạ vàng chờ tới tàn phai
Hoa tàn em nhúng sương mai
Hai mươi năm gói khăn mùi còn thơm.
3. Nguyên văn bằng tiếng Thái :
“Mửa lồng hươn, phắc cón hính pên bửa
Bát làu lửa, xửa ón nọi ma ták têm chăn”
Bát làu lửa, xửa ón nọi ma ták têm chăn”
Cầm Cường dịch nghĩa :
Lúc ra đi hạt cải mới nẩy mầm
Tới ngày về, áo con trẻ phơi đầy sân.
Tới ngày về, áo con trẻ phơi đầy sân.
Nguyễn Khôi dịch và phóng tác :
Khi anh đi cải ngồng cánh bướm
Anh trở về, cải muộn ra hoa
Khi đi piêu mới rủ là
Khi về áo trẻ đầy nhà dăng phơi
Lá trầu vàng rụng rơi khỏi cuống
Cây tre sầu chết đứng vườn bên
Bạn bè nên lứa nên duyên
Riêng anh đơn độc nhìn em bẽ bàng .
Anh trở về, cải muộn ra hoa
Khi đi piêu mới rủ là
Khi về áo trẻ đầy nhà dăng phơi
Lá trầu vàng rụng rơi khỏi cuống
Cây tre sầu chết đứng vườn bên
Bạn bè nên lứa nên duyên
Riêng anh đơn độc nhìn em bẽ bàng .
Nhưng
rất nhiều chỗ anh lại rút gọn lại. Vào đầu câu chuyện, nguyên tác dùng
đến 180 câu tả cảnh thai nghén của Mẹ yêu, Nguyễn Khôi tước bỏ những chỗ
không cần thiết “gom” lại 12 câu khá chuẩn:
“Mẹ anh yêu nhói đau bên phải
Đều thèm ăn món gỏi cá chua
Bé xinh hai tháng có thừa
Mẹ thèm ăn dở me chua bên vườn
Chửa ba tháng gỏi lườn Cá Giếc.
Chắm nấu măng ngỡ tiệc tháng tư
Tháng năm Cá Pộc đã chờ
Cá Chày … sáu tháng mẹ sờ thấy con
Tháng thứ bảy Cá Mương làm gỏi
Cá Vũ ngon quẫy đợi tháng sau
Bé xinh mẹ nặng mang bầu
Đợi chờ chín tháng qua cầu nở sinh”
* *
Máng nước xối lanh tanh róc rách
Chú thím mừng, mẹ mệt vẫn cười
Mười ngày, chín tháng, đủ đôi.
Hai ta cùng lúc chào đời khóc oe
Anh rơi sấp bà chìa tay đỡ
Mẹ đẻ ra rơi ngửa thành em
Nâng niu bú mớm lớn lên
Cùng phi ngựa trúc chơi liền bên nhau
Đều thèm ăn món gỏi cá chua
Bé xinh hai tháng có thừa
Mẹ thèm ăn dở me chua bên vườn
Chửa ba tháng gỏi lườn Cá Giếc.
Chắm nấu măng ngỡ tiệc tháng tư
Tháng năm Cá Pộc đã chờ
Cá Chày … sáu tháng mẹ sờ thấy con
Tháng thứ bảy Cá Mương làm gỏi
Cá Vũ ngon quẫy đợi tháng sau
Bé xinh mẹ nặng mang bầu
Đợi chờ chín tháng qua cầu nở sinh”
* *
Máng nước xối lanh tanh róc rách
Chú thím mừng, mẹ mệt vẫn cười
Mười ngày, chín tháng, đủ đôi.
Hai ta cùng lúc chào đời khóc oe
Anh rơi sấp bà chìa tay đỡ
Mẹ đẻ ra rơi ngửa thành em
Nâng niu bú mớm lớn lên
Cùng phi ngựa trúc chơi liền bên nhau
Chất
thi sĩ của người Kinh Nguyễn Khôi đã nhập vào hồn những câu thơ Thái
rất đẹp và duyên dáng. Chúng ta có thể nhặt thêm : “Trời hoàng hôn nắng
khép cửa rừng” (câu 78); “Quả câu nhỏ buộc dây trầu gỡ sao” (câu 120);
“Người đi xa quẩn quanh vía bám – Dây trầu leo lên quấn hồn yêu” (câu
249-250); “Vừa đi vừa ngoái đầu về bản – Chân bước xa càng nhớ càng
đau” (câu 309-310); “Không ăn bụng đã đói mềm – Ăn vào tắc họng như tên
bắn vào” (câu 640-641); “Chán nhau nhựa trám quyện mau – Hai đuôi con
mắt, vai đầu quyện thương” (câu 792-793) ; “Đêm nằm không mảnh lót lưng –
Cơm ăn như cát đói từng đêm đêm” (câu 888-889); “Đồi dong chớp loáng
bên bờ - Mưa sa núi trám gió đưa bước nàng” (câu 1000-1001).
Nguyễn
Khôi không có ý định bám sát nguyên tác để dịch mà bám sát từng ý, từng
đoạn thơ Thái hay nhất, rút được cái thần thái nguyên bản để chuyển
thành thơ. Dịch thơ là một sự sáng tạo. Sức sáng tạo của Nguyễn Khôi
thật đáng kể. Nhà thơ đã khéo chọn thể thơ song thất lục bát độc nhất vô
nhị của Việt Nam ra đời cùng thời thế kỷ XVII với Đoàn Thị Điểm dịch
Chinh phụ ngâm và Nguyễn Gia Thiều viết Cung oán ngâm khúc - một thể thơ
có khả năng vừa tự sự vừa trữ tình thích hợp cho truyện thơ để dịch.
Nguyên
tác Sống chụ son sao dài 1.846 câu, Nguyễn khôi chuyển thể và rút gọn
thành 1.024 câu mà cốt truyện vẫn đầy đủ ý nghĩa, hồn vía vẫn giữ trọn.
Bản dịch thật tao nhã, lời Kinh hồn Thái nhuần nhị, nó là một công trình
nghệ thuật có giá trị văn học cao, vượt trội hơn các bản dịch khác của
Điêu Chính Ngâu (1914-1958), Mạc Phi (1928-1996). Có thể nói Nguyễn Khôi
đã gần như sáng tác lại trên nền tảng của nguyên tác trứ danh này. Công
lao của Nguyễn Khôi đối với “Tiễn Dặn Người Yêu” chẳng khác gì Nguyễn
Du đối với Truyện Kiều.
Sau đây, xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc toàn văn tác phẩm :
SỐNG CHỤ SON SAO
(Tiễn Dặn Người Yêu)
(Tiễn Dặn Người Yêu)
Truyện thơ dân tộc Thái
Dịch thơ: Nguyễn Khôi
Dịch thơ: Nguyễn Khôi
Phần 1:
1.
Kể chuyện cũ lại bù chuyện tới
Thuở đôi ta còn mới hoài thai
Mẹ yêu đã tính từng ngày
Em nằm bên trái “cựa” hoài lớn mau
Kể chuyện cũ lại bù chuyện tới
Thuở đôi ta còn mới hoài thai
Mẹ yêu đã tính từng ngày
Em nằm bên trái “cựa” hoài lớn mau
5.
Mẹ anh yêu nhói đau bên phải[1]
Đều thèm ăn món gỏi cá chua
Bé xinh hai tháng có thừa
Mẹ thèm ăn dở me chua bên vườn
Chửa ba tháng gỏi lườn Cá Giếc
Mẹ anh yêu nhói đau bên phải[1]
Đều thèm ăn món gỏi cá chua
Bé xinh hai tháng có thừa
Mẹ thèm ăn dở me chua bên vườn
Chửa ba tháng gỏi lườn Cá Giếc
10.
Chắm nấu măng ngỡ tiệc tháng tư
Tháng năm Cá Pộc đã chờ
Cá Chày … sáu tháng mẹ sờ thấy con
Tháng thứ bảy Cá Mương làm gỏi
Cá Vũ ngon quẫy đợi tháng sau
Chắm nấu măng ngỡ tiệc tháng tư
Tháng năm Cá Pộc đã chờ
Cá Chày … sáu tháng mẹ sờ thấy con
Tháng thứ bảy Cá Mương làm gỏi
Cá Vũ ngon quẫy đợi tháng sau
15.
Bé xinh mẹ nặng mang bầu
Đợi chờ chín tháng qua cầu nở sinh
Máng nước xối lanh tanh róc rách
Chú thím mừng, mẹ mệt vẫn cười
Mười ngày, chín tháng, đủ đôi
Bé xinh mẹ nặng mang bầu
Đợi chờ chín tháng qua cầu nở sinh
Máng nước xối lanh tanh róc rách
Chú thím mừng, mẹ mệt vẫn cười
Mười ngày, chín tháng, đủ đôi
20.
Hai ta cùng lúc chào đời khóc oe
Anh rơi sấp bà chìa tay đỡ
Mẹ đẻ ra rơi ngửa thành em[2]
Nâng niu bú mớm lớn lên
Cùng phi ngựa trúc chơi liền bên nhau
Hai ta cùng lúc chào đời khóc oe
Anh rơi sấp bà chìa tay đỡ
Mẹ đẻ ra rơi ngửa thành em[2]
Nâng niu bú mớm lớn lên
Cùng phi ngựa trúc chơi liền bên nhau
25.
Mười ba tuổi em đâu còn nhỏ
Óng ả lên nhóm lửa trên sàn
Đàn môi, sáo thổi chứa chan
Đôi ta như gốc cải làn tươi xanh
Công cha mẹ sinh thành cùng lớn
Mười ba tuổi em đâu còn nhỏ
Óng ả lên nhóm lửa trên sàn
Đàn môi, sáo thổi chứa chan
Đôi ta như gốc cải làn tươi xanh
Công cha mẹ sinh thành cùng lớn
30.
Tuổi ấu thơ duyên ướm từ xưa
Đến ngày gặp chốn sàn hoa
Ngồi bên bếp lửa mặn mà trao duyên
Có đêm chuyện chừng quên gà gáy
Đeo mộng về trăng rải như mơ
Tuổi ấu thơ duyên ướm từ xưa
Đến ngày gặp chốn sàn hoa
Ngồi bên bếp lửa mặn mà trao duyên
Có đêm chuyện chừng quên gà gáy
Đeo mộng về trăng rải như mơ
35.
Mù dâng sương tỏa mịt mờ
Tơ duyên se lối hẹn hò bền lâu
Chỉ sợ chặt “vầu” không thuận mé[3]
Trời không thương, cha mẹ không ưng
Thương ai khác bản khác mường
Mù dâng sương tỏa mịt mờ
Tơ duyên se lối hẹn hò bền lâu
Chỉ sợ chặt “vầu” không thuận mé[3]
Trời không thương, cha mẹ không ưng
Thương ai khác bản khác mường
40.
Không yêu mẹ ép buộc lòng phải yêu
Ôi thương quá chim kêu mùa hạ
Lòng nhớ mong không ngả tìm sang
Tương tư những muốn tới gần
Lại e người quở, bần thần ốm o
Không yêu mẹ ép buộc lòng phải yêu
Ôi thương quá chim kêu mùa hạ
Lòng nhớ mong không ngả tìm sang
Tương tư những muốn tới gần
Lại e người quở, bần thần ốm o
45.
Mẹ anh xót mới nhờ người bói
Quẻ này “hung” người nói thầm thì
Đã yêu anh chẳng sợ gì
Đã thương quyết lấy, quyết đi đến cùng
Anh đi gặt lúa đồng ngoài nội
Mẹ anh xót mới nhờ người bói
Quẻ này “hung” người nói thầm thì
Đã yêu anh chẳng sợ gì
Đã thương quyết lấy, quyết đi đến cùng
Anh đi gặt lúa đồng ngoài nội
50.
Anh đi đánh cá lưới ngoài sông
Cá to anh đổ tràn “cong”
Lợn gà nuôi đã đầy sân đợi ngày
Tìm mua đĩa, đi ngay Tạ Bú
Ra Tà Hè mua lụa, mua tơ
Anh đi đánh cá lưới ngoài sông
Cá to anh đổ tràn “cong”
Lợn gà nuôi đã đầy sân đợi ngày
Tìm mua đĩa, đi ngay Tạ Bú
Ra Tà Hè mua lụa, mua tơ
Phần 2:
Tìm bà Mai biết têm trầu tiếp
Lựa lời thưa duyên đẹp không phai
Lễ to lại đã chọn ngày
Lựa lời thưa duyên đẹp không phai
Lễ to lại đã chọn ngày
60.
Sang nhà xin lạy mẹ thầy ưng cho
Cha em ngồi cùng “Mo”[5] chẳng đáp
Mẹ em ngồi giường thấp lặng thinh
Hồi lâu mới nói lạnh tanh:
- Người kia cái mặt khó nhìn làm sao!
Sang nhà xin lạy mẹ thầy ưng cho
Cha em ngồi cùng “Mo”[5] chẳng đáp
Mẹ em ngồi giường thấp lặng thinh
Hồi lâu mới nói lạnh tanh:
- Người kia cái mặt khó nhìn làm sao!
65.
Nón làng Chuông có đâu đáng đội
Rể chi anh đòi tối đan chài
Về đi chốn khác mối mai
Về đi, nội ngoại trong ngoài trình thưa.
Anh đã lo mà lo không đủ
Nón làng Chuông có đâu đáng đội
Rể chi anh đòi tối đan chài
Về đi chốn khác mối mai
Về đi, nội ngoại trong ngoài trình thưa.
Anh đã lo mà lo không đủ
70.
Tính chi ly lẫn lú tính sai
Tay ôm cau những rã rời
Tay xách giỏ cá lệ rơi thẹn thùng.
Anh đau đớn về buồng nằm khóc
Tấm thân trai héo hắt phòng không
Tính chi ly lẫn lú tính sai
Tay ôm cau những rã rời
Tay xách giỏ cá lệ rơi thẹn thùng.
Anh đau đớn về buồng nằm khóc
Tấm thân trai héo hắt phòng không
75.
Khi con Người ấy ra đồng
Cũng đi kiếm cá ngoài sông, học đòi
Chài quăng đấy cá toi cả mẻ
Người mang về ướp ché măng chua
Đĩa mua Tạ Bú cũng chờ
Khi con Người ấy ra đồng
Cũng đi kiếm cá ngoài sông, học đòi
Chài quăng đấy cá toi cả mẻ
Người mang về ướp ché măng chua
Đĩa mua Tạ Bú cũng chờ
80.
Cau mua Tà Sại, tơ mua Tà Hè
Cau Tà Sại chưa lìa đã héo
Trầu Mường Chai lá méo mùi hôi
Lá rong Người cắt gói xôi
Thuốc lào bọc lá nhờ người mối manh
Cau mua Tà Sại, tơ mua Tà Hè
Cau Tà Sại chưa lìa đã héo
Trầu Mường Chai lá méo mùi hôi
Lá rong Người cắt gói xôi
Thuốc lào bọc lá nhờ người mối manh
85.
Lễ to chọn ngày lành tháng tốt
Sang nhà xin cho được dâu hiền
Cha em vừa thấy ưng liền
Mẹ vui lời tựa tấm chiên[6] ấm nồng
Em còn ở trên nương, nào biết
Lễ to chọn ngày lành tháng tốt
Sang nhà xin cho được dâu hiền
Cha em vừa thấy ưng liền
Mẹ vui lời tựa tấm chiên[6] ấm nồng
Em còn ở trên nương, nào biết
90.
Trời hoàng hôn nắng khép cửa rừng
Mặt trời rơi xuống tầng tầng
Từ mặt “phai”[7] tràn sang sàn người thương
Mặt trời quấn ngọn giang sắp lặn
Mặt trời treo ngọn sắn sắp rơi
Trời hoàng hôn nắng khép cửa rừng
Mặt trời rơi xuống tầng tầng
Từ mặt “phai”[7] tràn sang sàn người thương
Mặt trời quấn ngọn giang sắp lặn
Mặt trời treo ngọn sắn sắp rơi
95.
Trời im không một tiếng lời
Trời đi chẳng đợi chân người theo đi
Trời khuất núi mây che sập tối
Em vội vàng ra lối bìa rừng
Sương chiều đã đổ đầy thung
Trời im không một tiếng lời
Trời đi chẳng đợi chân người theo đi
Trời khuất núi mây che sập tối
Em vội vàng ra lối bìa rừng
Sương chiều đã đổ đầy thung
100.
Em còn chặt củi nai lưng gánh về
Bó to mẹ chẳng chê nấu rượu
Lửa sàn hoa hơ áo anh yêu
- Về đi, em gọi Vía theo
Vía anh yêu chớ ngủ liều búi lau
Em còn chặt củi nai lưng gánh về
Bó to mẹ chẳng chê nấu rượu
Lửa sàn hoa hơ áo anh yêu
- Về đi, em gọi Vía theo
Vía anh yêu chớ ngủ liều búi lau
105.
Về tới bản thấy sao là lạ
Gánh củi to em hạ gầm sàn
- Mẹ ơi, em thẳng vào buồng
Cởi khăn lòng những bồn chồn làm sao.
Đi ra bến bờ cao nước lớn
Về tới bản thấy sao là lạ
Gánh củi to em hạ gầm sàn
- Mẹ ơi, em thẳng vào buồng
Cởi khăn lòng những bồn chồn làm sao.
Đi ra bến bờ cao nước lớn
110.
Về nhà chừng khó ướm hỏi ai
Thẩn thơ bụng đã đói rồi
Cơm canh đâu hở… mẹ ơi có gì?
Mẹ yêu bảo: mâm kia đang đợi
Em mở xem: gà gói, cá, nem
Về nhà chừng khó ướm hỏi ai
Thẩn thơ bụng đã đói rồi
Cơm canh đâu hở… mẹ ơi có gì?
Mẹ yêu bảo: mâm kia đang đợi
Em mở xem: gà gói, cá, nem
115.
Bên mâm bầy sẵn trầu têm
Thử vờ em hỏi: khách đem đổi à?
Mẹ bảo: Xá[8] núi xa không đổi
Gói trầu kia Người tới “dạm” con
Trăm năm tính cuộc vuông tròn
Bên mâm bầy sẵn trầu têm
Thử vờ em hỏi: khách đem đổi à?
Mẹ bảo: Xá[8] núi xa không đổi
Gói trầu kia Người tới “dạm” con
Trăm năm tính cuộc vuông tròn
120.
Thôi cô đã lớn chẳng còn ngây thơ
Con chớ nghe lời gà, tiếng vịt
Vườn sẽ tan, trứng chết trong phôi
Mất họ hàng bởi lời xui
Đâu khôn đâu dại tới lui khôn lường
Thôi cô đã lớn chẳng còn ngây thơ
Con chớ nghe lời gà, tiếng vịt
Vườn sẽ tan, trứng chết trong phôi
Mất họ hàng bởi lời xui
Đâu khôn đâu dại tới lui khôn lường
125.
Ai chả muốn nhà sang cửa lớn
Cây cải hoa lũ bướm lượn tìm
Mẹ cha đã mỏi mắt nhìn
Tuổi già mong rể út bên cậy nhờ
Giỏ cá trắm đang chờ rể biếu
Ai chả muốn nhà sang cửa lớn
Cây cải hoa lũ bướm lượn tìm
Mẹ cha đã mỏi mắt nhìn
Tuổi già mong rể út bên cậy nhờ
Giỏ cá trắm đang chờ rể biếu
130.
Con gái yêu lấy hiếu làm đầu
Em nghe trời sập xuống mau
Thương anh nát ruột nỗi sầu ngẩn ngơ
Em đã lo mà lo không đủ
Tính chi ly lẫn lú tính sai
Con gái yêu lấy hiếu làm đầu
Em nghe trời sập xuống mau
Thương anh nát ruột nỗi sầu ngẩn ngơ
Em đã lo mà lo không đủ
Tính chi ly lẫn lú tính sai
135.
Chạy cầu chú bác trong ngoài
Họ hàng: – thôi cũng chịu rồi cháu ơi!
Chúng ta đã xơi cơi trầu lễ
Em lại kêu anh rể, chị dâu
- Ôi thôi bé út dễ đâu
Chạy cầu chú bác trong ngoài
Họ hàng: – thôi cũng chịu rồi cháu ơi!
Chúng ta đã xơi cơi trầu lễ
Em lại kêu anh rể, chị dâu
- Ôi thôi bé út dễ đâu
140.
Quả cau đã buộc dây trầu gỡ sao
Chim cúc cu cành cao đã hót
Nhà đang mừng, đừng khóc cô ơi!
Trúc tre nên giấy trắng ngời
Lấy chồng, bố đã gả rồi – phải nghe.
Quả cau đã buộc dây trầu gỡ sao
Chim cúc cu cành cao đã hót
Nhà đang mừng, đừng khóc cô ơi!
Trúc tre nên giấy trắng ngời
Lấy chồng, bố đã gả rồi – phải nghe.
145.
Con gà chọn cành me đậu tốt
Gái kén chồng chẳng được hay đâu
Phải thằng chồng “Xá”[9] ngu lâu
Chọn dao chọn phải lưỡi dao mẻ quằn
Nghe cha mẹ môn đăng hộ đối
Con gà chọn cành me đậu tốt
Gái kén chồng chẳng được hay đâu
Phải thằng chồng “Xá”[9] ngu lâu
Chọn dao chọn phải lưỡi dao mẻ quằn
Nghe cha mẹ môn đăng hộ đối
150.
Nón đội đầu sớm tối thong dong
Như cá không muối cá ươn
Đâu che lá chuối, cào vườn nương xa.
Lời nhân ngãi bao giờ chả ngọt
Hay thì hay chẳng được gì đâu
Nón đội đầu sớm tối thong dong
Như cá không muối cá ươn
Đâu che lá chuối, cào vườn nương xa.
Lời nhân ngãi bao giờ chả ngọt
Hay thì hay chẳng được gì đâu
155.
Kẻo mà mạ lỡ vụ gieo
Nhà cao cửa rộng đón chiều chuộng em.
Lời như “chiếu”[10] đã liền một tấm
Như lưỡi gươm đã cắm xuyên tường
Dẫu van cha cũng chẳng thương
Kẻo mà mạ lỡ vụ gieo
Nhà cao cửa rộng đón chiều chuộng em.
Lời như “chiếu”[10] đã liền một tấm
Như lưỡi gươm đã cắm xuyên tường
Dẫu van cha cũng chẳng thương
160.
Thân con bọ ngựa dễ lường bão, mưa
Em đã lo mà lo không đủ
Tính chi ly lẫn lú tính sai
Mượn dao người để chặt cây[11]
Khiến người đốn củi, lựa lời cho thôi.
Thân con bọ ngựa dễ lường bão, mưa
Em đã lo mà lo không đủ
Tính chi ly lẫn lú tính sai
Mượn dao người để chặt cây[11]
Khiến người đốn củi, lựa lời cho thôi.
Phần 3:
165.
Lúa đầy bịch sẽ mời ra cổng
Cho một manh khố đóng mang đi
Dở dang kẻ nói người chê
Kẻ thương người ghét ê chề mặt ai.
Em bỗng thành vợ người, nghĩa nặng
Lúa đầy bịch sẽ mời ra cổng
Cho một manh khố đóng mang đi
Dở dang kẻ nói người chê
Kẻ thương người ghét ê chề mặt ai.
Em bỗng thành vợ người, nghĩa nặng
170.
Rau của Người bùi đắng, nghĩa dày
Sáo, kèn Người đã về đây
Nón treo giữa vách, chặt cây rào vườn
Người đã thành rể con nuôi bố
Trông ruộng vườn, đuổi hổ, chăn trâu
Rau của Người bùi đắng, nghĩa dày
Sáo, kèn Người đã về đây
Nón treo giữa vách, chặt cây rào vườn
Người đã thành rể con nuôi bố
Trông ruộng vườn, đuổi hổ, chăn trâu
175.
Tinh mơ dậy sớm mài dao
Chiều về chài lưới, mệt nào dám kêu
Em đã lo mà lo không đủ
Tính chi ly lẫn lú tính sai
Lòng yêu, sống tựa chết rồi
Tinh mơ dậy sớm mài dao
Chiều về chài lưới, mệt nào dám kêu
Em đã lo mà lo không đủ
Tính chi ly lẫn lú tính sai
Lòng yêu, sống tựa chết rồi
180.
Thà ăn lá ngón lìa đời cho xong
Như vần đá, đá lăn đổ sập
Dập ngón tay rút ruột mà đau
Máu không rơi, buốt tận đầu
Nhói trong tim, hỏi ai nào biết cho?
Thà ăn lá ngón lìa đời cho xong
Như vần đá, đá lăn đổ sập
Dập ngón tay rút ruột mà đau
Máu không rơi, buốt tận đầu
Nhói trong tim, hỏi ai nào biết cho?
185.
Trùm chăn kín xót xa thầm khóc
Cúi mặt gầm nước mắt chứa chan
Ngẩng lên lệ rỏ hai hàng
Chừng thừa nước mắt cả làng rửa rau
Thương mắt biếc như trầu xanh lá
Trùm chăn kín xót xa thầm khóc
Cúi mặt gầm nước mắt chứa chan
Ngẩng lên lệ rỏ hai hàng
Chừng thừa nước mắt cả làng rửa rau
Thương mắt biếc như trầu xanh lá
190.
Thương ngón tay thon thả lá hành
Nhớ lời nguyện ước đinh ninh
Khăng khăng son sắt mối tình còn đeo.
Nhớ như gà con theo nhặt tấm
Như nắm xôi nóng bọc lá tươi
Thương ngón tay thon thả lá hành
Nhớ lời nguyện ước đinh ninh
Khăng khăng son sắt mối tình còn đeo.
Nhớ như gà con theo nhặt tấm
Như nắm xôi nóng bọc lá tươi
195.
Những mong là “đó”[12] thả trôi
là “đơm”[13] bạn quý, người hôi mất “lờ”[14]
Anh đã lo mà lo không đủ
Tính chi ly lẫn lú tính sai
Túm hai cái núm một “chài”
là “đơm”[13] bạn quý, người hôi mất “lờ”[14]
Anh đã lo mà lo không đủ
Tính chi ly lẫn lú tính sai
Túm hai cái núm một “chài”
200.
Đêm đêm quăng trượt ra ngoài bờ sông
Như một kẻ đôi lòng khó nghĩ
Suy một mình thêm bí không cùng
Đã không nên vợ nên chồng
Muốn ăn dưa, cố rào vườn chẳng nên
Đêm đêm quăng trượt ra ngoài bờ sông
Như một kẻ đôi lòng khó nghĩ
Suy một mình thêm bí không cùng
Đã không nên vợ nên chồng
Muốn ăn dưa, cố rào vườn chẳng nên
205.
Nào ai ngỡ là em tình phụ
Như hoa tươi mãi rú rừng xa
Ước như tay Vượn dài ra
Hóa là tay Cóc khó qua bìa rừng
Ước có phép như Rồng biến hóa
Nào ai ngỡ là em tình phụ
Như hoa tươi mãi rú rừng xa
Ước như tay Vượn dài ra
Hóa là tay Cóc khó qua bìa rừng
Ước có phép như Rồng biến hóa
210.
Biến em yêu thành vợ trong buồng
Lên trời đậu ngọn cây thơm
Bay tìm xem thử “mệnh” nàng ra sao
Mệnh nàng đâu ta cầu gần lại
Mệnh nàng xa mấy “xải”[15] cũng co
Biến em yêu thành vợ trong buồng
Lên trời đậu ngọn cây thơm
Bay tìm xem thử “mệnh” nàng ra sao
Mệnh nàng đâu ta cầu gần lại
Mệnh nàng xa mấy “xải”[15] cũng co
215.
Buộc hai hồn một dây to
Gần trong gang tấc “mệnh” chờ liền đôi
Anh đã lo mà lo không đủ
Tính chi ly lẫn lú tính sai
Người ta trầu úa mối mai
Buộc hai hồn một dây to
Gần trong gang tấc “mệnh” chờ liền đôi
Anh đã lo mà lo không đủ
Tính chi ly lẫn lú tính sai
Người ta trầu úa mối mai
220.
Mẹ cha em lại mừng vui đón chào
Còn anh cả buồng cau sai quả
Trầu xanh tươi muôn lá… mang về
Vừa sang “dạm” đã đuổi, chê
- Ối dào, cái giống quả me ngoài rừng.
Mẹ cha em lại mừng vui đón chào
Còn anh cả buồng cau sai quả
Trầu xanh tươi muôn lá… mang về
Vừa sang “dạm” đã đuổi, chê
- Ối dào, cái giống quả me ngoài rừng.
225.
Quả me nhà thơm lừng ngọt lạ
Gái nhà này phải giá bằng Voi
Giá Voi, đành lảng chịu thôi
Giá Trâu, cố đấm ăn xôi họa là
Dù thu vét cả nhà chẳng đủ
Quả me nhà thơm lừng ngọt lạ
Gái nhà này phải giá bằng Voi
Giá Voi, đành lảng chịu thôi
Giá Trâu, cố đấm ăn xôi họa là
Dù thu vét cả nhà chẳng đủ
230.
Lấy “số” đua với “số” không cùng
“Phận” thì “phận” mỏng như không
Phải đâu rau núi, quả rừng hái tranh
Bạc không nặng khó giành em được
Tình có sâu thua cuộc… lìa nhau!
Lấy “số” đua với “số” không cùng
“Phận” thì “phận” mỏng như không
Phải đâu rau núi, quả rừng hái tranh
Bạc không nặng khó giành em được
Tình có sâu thua cuộc… lìa nhau!
235.
Tủi thân anh bỏ sang Lào
Cắm sào rời bến, lòng đau nuốt hờn
Nào đeo túi đi buôn bán sắt
Bán “lưỡi mai” quanh khắp quê người
Mường Tang, Tòng Puốn tới nơi[16]
Tủi thân anh bỏ sang Lào
Cắm sào rời bến, lòng đau nuốt hờn
Nào đeo túi đi buôn bán sắt
Bán “lưỡi mai” quanh khắp quê người
Mường Tang, Tòng Puốn tới nơi[16]
240.
Chân mây mờ tỏ, cửa trời ngó sang
Nén bạc: được cả đàn ngựa quý
Vạn trâu: chìa dao mẻ đổi liền
Nhờ phúc em, lãi muôn tiền
Xuất hành ngày tốt đã xem từ nhà
Chân mây mờ tỏ, cửa trời ngó sang
Nén bạc: được cả đàn ngựa quý
Vạn trâu: chìa dao mẻ đổi liền
Nhờ phúc em, lãi muôn tiền
Xuất hành ngày tốt đã xem từ nhà
245.
Ngày Nhâm Ngọ tiếng gà tao tác
Anh quay về chọn được ngày “Thân”
Vừa ra cửa đã vấp chân
Đi buôn tìm được ngày “Dần” lộc to
Ra cổng gặp Cáo chờ lạy khấn
Ngày Nhâm Ngọ tiếng gà tao tác
Anh quay về chọn được ngày “Thân”
Vừa ra cửa đã vấp chân
Đi buôn tìm được ngày “Dần” lộc to
Ra cổng gặp Cáo chờ lạy khấn
250.
Bìm Bịp mừng nhúng nhắng xun xoe
“Tực Từ”[17] kêu lộng ngoài khe
Thấy chim Chót Bóp bay về sánh đôi
Trời mở cửa thử coi Ngựa quý
Bốn vạn Trâu… lãi đẻ ngàn lần
Bìm Bịp mừng nhúng nhắng xun xoe
“Tực Từ”[17] kêu lộng ngoài khe
Thấy chim Chót Bóp bay về sánh đôi
Trời mở cửa thử coi Ngựa quý
Bốn vạn Trâu… lãi đẻ ngàn lần
255.
Ngựa trâu đi bước rầm rầm
Bồn chồn lại rỏ lệ thầm nhớ em
Nghe Hổ Báo rừng bên gầm thét
Nghe Chim kêu tha thiết đường mưa
Nhớ quê đồng đã vào mùa
Ngựa trâu đi bước rầm rầm
Bồn chồn lại rỏ lệ thầm nhớ em
Nghe Hổ Báo rừng bên gầm thét
Nghe Chim kêu tha thiết đường mưa
Nhớ quê đồng đã vào mùa
260.
Mạ ai gieo, để ai bừa ruộng em?
Nỗi nhớ ai ngày đêm gọt tỉa
Vào giữa rừng hú Vía em thương
Ở nhà em đợi bên thang
Ngồi nơi đầu cối võ vàng ngóng trông
Mạ ai gieo, để ai bừa ruộng em?
Nỗi nhớ ai ngày đêm gọt tỉa
Vào giữa rừng hú Vía em thương
Ở nhà em đợi bên thang
Ngồi nơi đầu cối võ vàng ngóng trông
265.
Anh cứ tưởng vườn Gừng hóa Nghệ
Bạn tình xưa ve vé bên chồng
Nhưng còn đây trái tim hồng
Dây tơ vương vấn theo từng bước anh.
Người đi xa quẩn quanh Vía bám.
Anh cứ tưởng vườn Gừng hóa Nghệ
Bạn tình xưa ve vé bên chồng
Nhưng còn đây trái tim hồng
Dây tơ vương vấn theo từng bước anh.
Người đi xa quẩn quanh Vía bám.
270.
Dây trầu leo lên quấn hồn yêu
Ngọn khoai ngả rợp bóng chiều
Tình yêu đôi lứa chẳng Xiêu hẹn lời.
Như dồn Bò buộc nơi cột trước
Như dồn Trâu anh buộc cột trong
Dây trầu leo lên quấn hồn yêu
Ngọn khoai ngả rợp bóng chiều
Tình yêu đôi lứa chẳng Xiêu hẹn lời.
Như dồn Bò buộc nơi cột trước
Như dồn Trâu anh buộc cột trong
Phần 4:
275.
Thương em đã dặn hết lòng
Yên tâm đợi mấy tháng xong anh về
Vào rừng măng thương tre đừng nhổ
Gặp bạn trai đừng có bỡn đùa
Trai quan kệ gái quan nô
Thương em đã dặn hết lòng
Yên tâm đợi mấy tháng xong anh về
Vào rừng măng thương tre đừng nhổ
Gặp bạn trai đừng có bỡn đùa
Trai quan kệ gái quan nô
281.
Gái trai cùng bản chuyện trò thân thương
Lìa anh, em nhớ đừng ngủ chạ
Xa anh, em chớ có nằm đôi
Anh về soi mắt kề môi
Ta chung chăn gối, hỡi ôi đợi cùng
Gái trai cùng bản chuyện trò thân thương
Lìa anh, em nhớ đừng ngủ chạ
Xa anh, em chớ có nằm đôi
Anh về soi mắt kề môi
Ta chung chăn gối, hỡi ôi đợi cùng
285.
Bò anh bán tận Mường nước ấm
Sang Vân Nam ngựa bán rất hời
Mỗi con một nén bạc tươi
Ngựa Ô vượt giá hai mươi nén tròn.
Bạc mười nén tìm em anh chuộc
Bò anh bán tận Mường nước ấm
Sang Vân Nam ngựa bán rất hời
Mỗi con một nén bạc tươi
Ngựa Ô vượt giá hai mươi nén tròn.
Bạc mười nén tìm em anh chuộc
290.
Vải năm trăm[18] anh cược em ra
Cho dù là vợ người ta
Đã yêu xin xẻ lòng chờ đợi nhau.
Mùa hoa bưởi hoa ngâu hẹn đợi
Hoa Mạ vàng chờ tới tàn phai
Vải năm trăm[18] anh cược em ra
Cho dù là vợ người ta
Đã yêu xin xẻ lòng chờ đợi nhau.
Mùa hoa bưởi hoa ngâu hẹn đợi
Hoa Mạ vàng chờ tới tàn phai
295.
Hoa tàn em nhúng sương mai
Hai mươi năm gói khăn mùi còn thơm
Mười chín đời Tạo Quan vẫn thắm
Mặt thân thương gửi gắm gì hơn
Vải ư? Sợ vải chóng sờn
Hoa tàn em nhúng sương mai
Hai mươi năm gói khăn mùi còn thơm
Mười chín đời Tạo Quan vẫn thắm
Mặt thân thương gửi gắm gì hơn
Vải ư? Sợ vải chóng sờn
300.
Đàn ư? lại sợ gãy đàn ngang cung
Gửi bạc vụn sợ không xứng đáng
Bạc nén ư? Anh kiếm chưa ra
Gửi tre, lại sợ tre già
Đàn môi cất kỹ kẻo mà nhận sai
Đàn ư? lại sợ gãy đàn ngang cung
Gửi bạc vụn sợ không xứng đáng
Bạc nén ư? Anh kiếm chưa ra
Gửi tre, lại sợ tre già
Đàn môi cất kỹ kẻo mà nhận sai
305.
Con khóc lấy đàn môi dỗ nín
Ngày về trời theo cánh ngựa bay[19]
Lời thương em nhớ đừng phai
Hồn thương đừng có đổi thay cõi trời.
Như hóa phép vàng tươi cánh bướm
Con khóc lấy đàn môi dỗ nín
Ngày về trời theo cánh ngựa bay[19]
Lời thương em nhớ đừng phai
Hồn thương đừng có đổi thay cõi trời.
Như hóa phép vàng tươi cánh bướm
310.
Qua hè chờ đông đến cưới nhau
Tuổi xuân dù có qua mau
Đợi khi góa bụa qua cầu vẫn ưng
Gái góa hai ba lần vẫn đẹp
Hơn gái tơ ba ngấn cổ cao[20]
Qua hè chờ đông đến cưới nhau
Tuổi xuân dù có qua mau
Đợi khi góa bụa qua cầu vẫn ưng
Gái góa hai ba lần vẫn đẹp
Hơn gái tơ ba ngấn cổ cao[20]
315.
Má hồng hơn tuổi xuân đào
Thương yêu chắc hẳn dạt dào hơn xưa
Đã yêu nhau lời thề phải nhớ.
Trầu têm chờ chớ úa, còn thơm
Thư đi chớ lạc bản mường
Má hồng hơn tuổi xuân đào
Thương yêu chắc hẳn dạt dào hơn xưa
Đã yêu nhau lời thề phải nhớ.
Trầu têm chờ chớ úa, còn thơm
Thư đi chớ lạc bản mường
320.
Gửi lòng yêu tới người thương phương trời
Em yêu khấn: anh ơi đừng ốm
Hãy như ve ILiếng[21] tài hoa
Dãi dầu đừng quá đi xa
Phòng cơm thuốc độc người ta hại mình.
Gửi lòng yêu tới người thương phương trời
Em yêu khấn: anh ơi đừng ốm
Hãy như ve ILiếng[21] tài hoa
Dãi dầu đừng quá đi xa
Phòng cơm thuốc độc người ta hại mình.
325.
Đi buôn chớ xem khinh ngày tháng
Lúa móc câu làm cốm cha làm
Gạo còn mấy ống cơm lam
Đi dăm bảy bữa quay thuyền về quê.
Vừa đi vừa ngoái về bản cũ
Đi buôn chớ xem khinh ngày tháng
Lúa móc câu làm cốm cha làm
Gạo còn mấy ống cơm lam
Đi dăm bảy bữa quay thuyền về quê.
Vừa đi vừa ngoái về bản cũ
330.
Bước chân xa càng nhớ càng đau
Dồn bò lên ngọn Khau Vai
Trâu lên Khau Cả cao vời núi non
Chân bò vướng ngọn giang tàu móc
Trâu bước đi chân vấp cành si.
Bước chân xa càng nhớ càng đau
Dồn bò lên ngọn Khau Vai
Trâu lên Khau Cả cao vời núi non
Chân bò vướng ngọn giang tàu móc
Trâu bước đi chân vấp cành si.
335.
Cây rừng ngáng lối ngựa phi
Trâu không ăn cỏ,ngựa chê thóc mầm
Anh ngồi đám lá xanh anh ngắt
Bẻ cành mơ gấp khúc bói xem
Quẻ”hung” hao của tốn tiền.
Cây rừng ngáng lối ngựa phi
Trâu không ăn cỏ,ngựa chê thóc mầm
Anh ngồi đám lá xanh anh ngắt
Bẻ cành mơ gấp khúc bói xem
Quẻ”hung” hao của tốn tiền.
340.
Trời đòi trâu lợn, Vía em ám cùng
Vía em lướt theo từng bước ngựa
Vết chân trâu có Vía em vương
Em thì ra ruộng lên nương
Bổ cau anh ném dọc đường vía theo.
Trời đòi trâu lợn, Vía em ám cùng
Vía em lướt theo từng bước ngựa
Vết chân trâu có Vía em vương
Em thì ra ruộng lên nương
Bổ cau anh ném dọc đường vía theo.
345.
Ở nhà em sớm chiều mong nhớ
Xin nán lòng kẻo khổ anh đi
Trâu anh, chồm dậy tức thì
Núi cao tiếp núi ngựa phi tối ngày
Xa em lên Mường lay núi biếc
Ở nhà em sớm chiều mong nhớ
Xin nán lòng kẻo khổ anh đi
Trâu anh, chồm dậy tức thì
Núi cao tiếp núi ngựa phi tối ngày
Xa em lên Mường lay núi biếc
350.
Lối Mường So đá xếp quanh co
Cheo leo dốc dựng bên bờ
Chênh vênh cuối thác sóng xô bên trời
Áo anh đã tả tơi xơ xác
Trâu mang đi đổi chác chẳng hời (lời lãi)
Lối Mường So đá xếp quanh co
Cheo leo dốc dựng bên bờ
Chênh vênh cuối thác sóng xô bên trời
Áo anh đã tả tơi xơ xác
Trâu mang đi đổi chác chẳng hời (lời lãi)
355.
Chồng em biết chắc biết mỉm cười
Ngựa hay chẳng đủ bạc mười chuộc em.
Anh còn phải đi thêm xa nữa
Năm lại năm khốn khổ em ơi
Rừng tre măng đã đâm chồi.
Chồng em biết chắc biết mỉm cười
Ngựa hay chẳng đủ bạc mười chuộc em.
Anh còn phải đi thêm xa nữa
Năm lại năm khốn khổ em ơi
Rừng tre măng đã đâm chồi.
Phần 5:
360.
Ngăn buồng cho rể, bông nhồi thêm chăn
Chăn đệm mới em làm chất đống
Của hồi môn, rể ngóng ngày ra
Cha tìm ngày tốt “bảy”,”ba”
Kéo chăn, dịch đệm, giao hòa lứa đôi[22]
Ngăn buồng cho rể, bông nhồi thêm chăn
Chăn đệm mới em làm chất đống
Của hồi môn, rể ngóng ngày ra
Cha tìm ngày tốt “bảy”,”ba”
Kéo chăn, dịch đệm, giao hòa lứa đôi[22]
365.
Em đã lo mà lo không đủ
Tính chi ly lẫn lú tính sai
Lòng yêu, sống tựa chết rồi
Thà ăn lá ngón lìa đời cho xong
Chồng em mới thung dung nói nhỏ
Em đã lo mà lo không đủ
Tính chi ly lẫn lú tính sai
Lòng yêu, sống tựa chết rồi
Thà ăn lá ngón lìa đời cho xong
Chồng em mới thung dung nói nhỏ
370.
“Trời cho ta thành vợ thành chồng
Cho dù đệm ngắn vài gang
Chăn như lá cỏ đắp ngang cũng đành
Ta sẽ chắn suối xanh làm đập
Chặn lũ về để bắt cá to
“Trời cho ta thành vợ thành chồng
Cho dù đệm ngắn vài gang
Chăn như lá cỏ đắp ngang cũng đành
Ta sẽ chắn suối xanh làm đập
Chặn lũ về để bắt cá to
375.
Chồng cầy vợ cấy chăm lo
Mẹ cha cũng được ấm no với mình”
Em đã lo mà lo không đủ
Tính chi ly lẫn lú tính sai
Khóc gào chỉ tổ người cười
Chồng cầy vợ cấy chăm lo
Mẹ cha cũng được ấm no với mình”
Em đã lo mà lo không đủ
Tính chi ly lẫn lú tính sai
Khóc gào chỉ tổ người cười
380
Cười ư, sượng mặt để người mỉa cho
Năm tiếp năm trông chờ mong ngóng
Đã sáu mùa lúa chín qua rồi
Bảy mùa cá lũ trôi xuôi
Ngày qua ngày lại anh ơi cháy lòng
Cười ư, sượng mặt để người mỉa cho
Năm tiếp năm trông chờ mong ngóng
Đã sáu mùa lúa chín qua rồi
Bảy mùa cá lũ trôi xuôi
Ngày qua ngày lại anh ơi cháy lòng
385
Cha mẹ bảo: cốm không ăn mãi
Rể chẳng nuôi nhà vợ đến già
Sẽ đưa dâu quý về nhà
Bên chồng cũng đã quá ba năm chờ
Chồng em ra ven bờ kiếm cá
Cha mẹ bảo: cốm không ăn mãi
Rể chẳng nuôi nhà vợ đến già
Sẽ đưa dâu quý về nhà
Bên chồng cũng đã quá ba năm chờ
Chồng em ra ven bờ kiếm cá
390.
Ra ngoài đồng gặt lúa qua trưa
Cá nhiều đem ướp mắm chua
Đợi ngày đẹp, mẹ cũng vừa nhắc em
Năm nay đưa vịt ngon về Phủ
Tháng Giêng này đúng cữ đưa dâu
Ra ngoài đồng gặt lúa qua trưa
Cá nhiều đem ướp mắm chua
Đợi ngày đẹp, mẹ cũng vừa nhắc em
Năm nay đưa vịt ngon về Phủ
Tháng Giêng này đúng cữ đưa dâu
395.
Em rằng: giêng chẳng tốt đâu
Gieo kê chim nhặt, buông câu cá chuồn
Mẹ nói buồn: tháng hai đưa vậy
Em vội thưa: tháng ấy kiêng hơn
Mệnh con treo mãi thượng nguồn
Em rằng: giêng chẳng tốt đâu
Gieo kê chim nhặt, buông câu cá chuồn
Mẹ nói buồn: tháng hai đưa vậy
Em vội thưa: tháng ấy kiêng hơn
Mệnh con treo mãi thượng nguồn
400.
Phải chờ bà Mụ đúc hồn cho xong
Phải đeo “lếp”[23] đi vòng nhà ngoại
Đeo sọt đi quay lại nhà xưa
Tháng này chưa phải tháng đưa
Vịt ngon về Phủ cũng chưa đúng kỳ
Phải chờ bà Mụ đúc hồn cho xong
Phải đeo “lếp”[23] đi vòng nhà ngoại
Đeo sọt đi quay lại nhà xưa
Tháng này chưa phải tháng đưa
Vịt ngon về Phủ cũng chưa đúng kỳ
405
Mẹ bảo: tháng ba đi vậy nhớ
Em thưa: còn làm cỏ trên nương
Tháng ba nhà phải cắt chàm
Phủ còn chưa nhận vịt ngon đưa về
Mẹ bảo : tháng tư đi vậy nhớ
Mẹ bảo: tháng ba đi vậy nhớ
Em thưa: còn làm cỏ trên nương
Tháng ba nhà phải cắt chàm
Phủ còn chưa nhận vịt ngon đưa về
Mẹ bảo : tháng tư đi vậy nhớ
410.
Em thưa: tháng này “dở” sự sinh
Biết bao lỗi, lệch đến mình
E điều thiên hạ cười khinh, không về
Mẹ bảo tháng năm đi vậy nhớ
Em thưa: chiêng có gõ chẳng kêu
Em thưa: tháng này “dở” sự sinh
Biết bao lỗi, lệch đến mình
E điều thiên hạ cười khinh, không về
Mẹ bảo tháng năm đi vậy nhớ
Em thưa: chiêng có gõ chẳng kêu
415.
Giường thờ nấm mọc”gở” nhiều
Vịt ngon về Phủ bao điều khen chê
Mẹ bảo: tháng sáu đi vậy nhớ
Em thưa: mùa nước đổ tràn sông
Thuyền đi nguy hiểm vô cùng
Giường thờ nấm mọc”gở” nhiều
Vịt ngon về Phủ bao điều khen chê
Mẹ bảo: tháng sáu đi vậy nhớ
Em thưa: mùa nước đổ tràn sông
Thuyền đi nguy hiểm vô cùng
420.
Gái không về tới nhà chồng, không đi
Mẹ bảo: tháng bảy đi vậy nhớ
Em thưa: ngỗng ấp nở tháng này
Sợ diều quạ đến cắp bay
Vịt ngon về Phủ chẳng hay chăng là
Gái không về tới nhà chồng, không đi
Mẹ bảo: tháng bảy đi vậy nhớ
Em thưa: ngỗng ấp nở tháng này
Sợ diều quạ đến cắp bay
Vịt ngon về Phủ chẳng hay chăng là
425
Mẹ bảo tháng tám đi vậy nhớ
Em thưa: tháng nắng đỏ cành bòng (bưởi)
Gió tây thổi bỏng tim gan
Vịt đưa về Phủ sẽ làm sao đây
Mẹ bảo: tháng chín đi vậy nhớ
Mẹ bảo tháng tám đi vậy nhớ
Em thưa: tháng nắng đỏ cành bòng (bưởi)
Gió tây thổi bỏng tim gan
Vịt đưa về Phủ sẽ làm sao đây
Mẹ bảo: tháng chín đi vậy nhớ
430.
Em thưa: trời oi bức âm u
Sói tru hùm rống gầm gừ
Vịt đưa về Phủ mịt mù sương sa
Mẹ bảo: tháng mười đi vậy nhớ
Em thưa: còn lũ đỏ nước ngầu
Em thưa: trời oi bức âm u
Sói tru hùm rống gầm gừ
Vịt đưa về Phủ mịt mù sương sa
Mẹ bảo: tháng mười đi vậy nhớ
Em thưa: còn lũ đỏ nước ngầu
435.
E thành gái góa sông sâu
Vịt đưa về Phủ xuống cầu âm ty
Mẹ bảo: tháng một đi vậy nhớ
Em thưa: mùa nấm gỗ héo hon
Mẹ chồng chê chẳng thấy ngon
E thành gái góa sông sâu
Vịt đưa về Phủ xuống cầu âm ty
Mẹ bảo: tháng một đi vậy nhớ
Em thưa: mùa nấm gỗ héo hon
Mẹ chồng chê chẳng thấy ngon
440.
Vịt đưa về Phủ giá còn đáng chi
Mẹ bảo: tháng chạp đi vậy nhớ
Gốc cải già lá tỏa đuôi voi
Bố chồng ngừng cả đan chài
Mẹ buông tay cửi đón người dâu yêu.
Mẹ bảo: tháng chạp đi vậy nhớ
Gốc cải già lá tỏa đuôi voi
Bố chồng ngừng cả đan chài
Mẹ buông tay cửi đón người dâu yêu.
445.
Em lúng túng hết điều chối nữa
Chọn ngày lành sắp sửa cưới cheo
Tháng này em phải đi theo
Vịt ngon về Phủ, trầu leo lên giàn
Bữa ăn to họ hàng đều tới
Em lúng túng hết điều chối nữa
Chọn ngày lành sắp sửa cưới cheo
Tháng này em phải đi theo
Vịt ngon về Phủ, trầu leo lên giàn
Bữa ăn to họ hàng đều tới
450
Bữa nhỏ riêng để cưới em về
Bạc Vân Nam thật khó chê
Cân Lào đã bắc sát kề cân Kinh
Cha em được riêng mình bốn nén
Ngày mồng hai đánh chén đêm thâu
Bạc Vân Nam thật khó chê
Cân Lào đã bắc sát kề cân Kinh
Cha em được riêng mình bốn nén
Ngày mồng hai đánh chén đêm thâu
455.
Tiếp rồi bữa rượu đưa dâu
Anh yêu còn mải buôn trâu phương trời
Lên Mường So tìm nơi bán ngựa
Con ngựa ô hai chục nén tròn
Bạc mười dành để chuộc em
Tiếp rồi bữa rượu đưa dâu
Anh yêu còn mải buôn trâu phương trời
Lên Mường So tìm nơi bán ngựa
Con ngựa ô hai chục nén tròn
Bạc mười dành để chuộc em
460.
Vải năm trăm đặt cược thêm tiếc gì
Bạc thừa thãi ta đi đúc nhị
Bạc trắng thì đúc Pí[24] thổi chơi
Trở về anh trở về thôi
Cơm ăn bãi cát ngủ đồi sỏi xa
Vải năm trăm đặt cược thêm tiếc gì
Bạc thừa thãi ta đi đúc nhị
Bạc trắng thì đúc Pí[24] thổi chơi
Trở về anh trở về thôi
Cơm ăn bãi cát ngủ đồi sỏi xa
465.
Thấy đôi nai nhẩn nha gặm cỏ
Súng anh giương, mũi ná anh nhằm
Nai run: xin lạy van chàng
Má hồng đang đợi, Nàng xuân đang chờ
Anh tiu nghỉu buông cò, bỏ ná
Súng anh giương, mũi ná anh nhằm
Nai run: xin lạy van chàng
Má hồng đang đợi, Nàng xuân đang chờ
Anh tiu nghỉu buông cò, bỏ ná
470.
Đàn Phượng đang ăn quả trên cành
Súng tay anh đã lăm lăm
Chim kêu: xin lạy van chàng thương cho.
Anh lại qua khe mơ vách đá
Lệ nhớ tuôn vạch lá luồn chui
Đàn Phượng đang ăn quả trên cành
Súng tay anh đã lăm lăm
Chim kêu: xin lạy van chàng thương cho.
Anh lại qua khe mơ vách đá
Lệ nhớ tuôn vạch lá luồn chui
475.
Con Don , con Dím nhạo cười
Tóc vương hoa cỏ, lạc rồi, rừng ma
Ma gái vặt Chanh na ném đuổi
Anh cắm đầu chạy vội lan man
Những mừng đến cửa nhà Quan
Con Don , con Dím nhạo cười
Tóc vương hoa cỏ, lạc rồi, rừng ma
Ma gái vặt Chanh na ném đuổi
Anh cắm đầu chạy vội lan man
Những mừng đến cửa nhà Quan
480.
Đây nhà người cũ trên sàn xôn xao
Chừng cả tiếng em yêu giòn giã
Như chim rừng ăn quả mừng reo
Ngõ hoa Mai nở mỹ miều
Tóc cao búi ngược ra chiều đón dâu[25]
Chừng cả tiếng em yêu giòn giã
Như chim rừng ăn quả mừng reo
Ngõ hoa Mai nở mỹ miều
Tóc cao búi ngược ra chiều đón dâu[25]
Phần 6:
485.
Anh dò hỏi: Khách đâu đông tới
Mẹ anh kêu : – không phải con ơi
Mọi người ăn uống xong rồi
Sẽ đưa gái quý về nơi nhà chồng.
Khi anh đi cải ngồng cánh bướm
Anh dò hỏi: Khách đâu đông tới
Mẹ anh kêu : – không phải con ơi
Mọi người ăn uống xong rồi
Sẽ đưa gái quý về nơi nhà chồng.
Khi anh đi cải ngồng cánh bướm
490.
Anh trở về cải muộn đơm hoa
Khi đi Piêu mới rủ là
Khi về áo trẻ khắp nhà giăng phơi
Là trầu vàng rụng rơi khỏi cuống
Cây tre sầu chết đứng vườn bên
Khi đi Piêu mới rủ là
Khi về áo trẻ khắp nhà giăng phơi
Là trầu vàng rụng rơi khỏi cuống
Cây tre sầu chết đứng vườn bên
495.
Bạn bè nên lứa nên duyên
Riêng anh đơn độc nhìn em bẽ bàng
Thư gửi sang xem chừng đã mục
Chuối trổ buồng chín nục thơm ngon
Nàng đang mải chuyện chồng con
Riêng anh đơn độc nhìn em bẽ bàng
Thư gửi sang xem chừng đã mục
Chuối trổ buồng chín nục thơm ngon
Nàng đang mải chuyện chồng con
500.
Đã yêu kẻ khác, mình còn bơ vơ
Anh đã lo mà lo không đủ
Tính chi li lẫn lú tính sai
Trèo cao lộn cổ lỡ đời
Đành trơ mắt ếch nhìn người Vu Quy
Anh đã lo mà lo không đủ
Tính chi li lẫn lú tính sai
Trèo cao lộn cổ lỡ đời
Đành trơ mắt ếch nhìn người Vu Quy
505.
Trong nhà em đang khi chuốc rượu
Hòm xiểng chờ chẳng thiếu ngoài hiên
Thôi vào chào các bề trên
Lạy cha , lạy mẹ, tìm em dặn dò
Xin cha mẹ thương lo đừng ốm
Hòm xiểng chờ chẳng thiếu ngoài hiên
Thôi vào chào các bề trên
Lạy cha , lạy mẹ, tìm em dặn dò
Xin cha mẹ thương lo đừng ốm
510.
Có se mình sớm nhắn con hay
Xin chào bạn gái bạn trai
Chào vườn trước ngõ trong ngoài bản ta
Ơi sàn khuống đậm đã duyên nợ[26]
Nơi hẹn hò bếp lửa cùng nhen
Xin chào bạn gái bạn trai
Chào vườn trước ngõ trong ngoài bản ta
Ơi sàn khuống đậm đã duyên nợ[26]
Nơi hẹn hò bếp lửa cùng nhen
515.
Thôi rồi… nay lớp các em
Mới chiều qua đón trăng lên trên sàn
Mưa không rơi đừng tan sàn nhé
Trời không mù đừng để quạnh hiu
Đàn môi bạn đánh tối chiều
Mới chiều qua đón trăng lên trên sàn
Mưa không rơi đừng tan sàn nhé
Trời không mù đừng để quạnh hiu
Đàn môi bạn đánh tối chiều
520.
Gái có chồng chẳng thể theo bạn bè
Xin chào cột chạm xòe đuôi nhạn
Mái chân gianh xén phẳng rui mè
Mái nhà tổ phụ bản quê
Xin chào hai họ ba bề đương ăn
Xin chào cột chạm xòe đuôi nhạn
Mái chân gianh xén phẳng rui mè
Mái nhà tổ phụ bản quê
Xin chào hai họ ba bề đương ăn
525.
Chào khung cửi dệt khăn dệt lụa
Chào ngựa bò gặm cỏ non tơ
Chào đàn vịt đẻ trứng to
Thương gà trống gáy đúng giờ thức ta
Từ nay chẳng xuống nhà giã gạo
Chào ngựa bò gặm cỏ non tơ
Chào đàn vịt đẻ trứng to
Thương gà trống gáy đúng giờ thức ta
Từ nay chẳng xuống nhà giã gạo
530.
Từ nay không rang đậu cho heo
Bãi mùi, búi sả ta yêu
Xin chào bếp lửa đến chiều khói vương
Ông đầu rau lửa vờn đen sạm
Cửa vắng ta chừng cũng rộng thênh
Bãi mùi, búi sả ta yêu
Xin chào bếp lửa đến chiều khói vương
Ông đầu rau lửa vờn đen sạm
Cửa vắng ta chừng cũng rộng thênh
535.
Cầu thang bữa bữa xuống lên
Gầm sàn sớm tối thân quen với mình
Ta đã bỏ bạn tình , lỡ bạn
Chào anh trai hám bán em đi
Anh trai vội vã phân vi:
Gầm sàn sớm tối thân quen với mình
Ta đã bỏ bạn tình , lỡ bạn
Chào anh trai hám bán em đi
Anh trai vội vã phân vi:
540.
Những mong em sướng so bì đâu hơn?
Trong nhà vẫn ồn ồn tiệc rượu
Hòm xiểng chờ chẳng thiếu ngoài hiên
Khăn Piêu phấp phới bay lên
Áo anh vội khoác đến liền tiễn đưa.
Trong nhà vẫn ồn ồn tiệc rượu
Hòm xiểng chờ chẳng thiếu ngoài hiên
Khăn Piêu phấp phới bay lên
Áo anh vội khoác đến liền tiễn đưa.
Phần 7:
545.
Anh sẽ tiễn đến nhà ông chú
Đến nhà chồng đừng sợ em ơi
Đưa em đưa đến tận nơi
Buồn thay tục lệ chẳng vời đến anh
Mẹ anh sợ ra ngăn anh lại
Anh sẽ tiễn đến nhà ông chú
Đến nhà chồng đừng sợ em ơi
Đưa em đưa đến tận nơi
Buồn thay tục lệ chẳng vời đến anh
Mẹ anh sợ ra ngăn anh lại
550.
Lôi anh về “không phải việc con
Gươm người sắc chớ coi thường
Bát cơm thuốc độc, thôi nhường con ơi!”
Anh vùng vẫy : quyết “chơi” chẳng sợ
Gươm sáng lòe giành vợ người ta
Lôi anh về “không phải việc con
Gươm người sắc chớ coi thường
Bát cơm thuốc độc, thôi nhường con ơi!”
Anh vùng vẫy : quyết “chơi” chẳng sợ
Gươm sáng lòe giành vợ người ta
555.
Nếu không, làm loạn bản nhà
Nếu không, làm giặc xông pha Phủ đường[27]
Cha mẹ ngăn, lòng thương dằng dặc
Cha mẹ ghìm nằng nặc đòi yêu
Trong lòng em, chết cũng liều
Nếu không, làm loạn bản nhà
Nếu không, làm giặc xông pha Phủ đường[27]
Cha mẹ ngăn, lòng thương dằng dặc
Cha mẹ ghìm nằng nặc đòi yêu
Trong lòng em, chết cũng liều
560.
Gươm chồng em chém ngang chiều cũng cam
“Vải năm trăm” coi bằng đồ bỏ
“Bạc nén” như vỏ đỗ vụn đồng
Rồi ra sao sẽ mặc lòng
Chết cùng em tựa lông hồng nhẹ sao
Gươm chồng em chém ngang chiều cũng cam
“Vải năm trăm” coi bằng đồ bỏ
“Bạc nén” như vỏ đỗ vụn đồng
Rồi ra sao sẽ mặc lòng
Chết cùng em tựa lông hồng nhẹ sao
565.
Dù thân phải phanh phui chín khúc
Chết giữa rừng như lúc ngủ say
Dối quanh để mẹ buông tay
Thề rằng: thôi vậy, con rày không đi
Mẹ cho con ăn gì kẻo đói
Dù thân phải phanh phui chín khúc
Chết giữa rừng như lúc ngủ say
Dối quanh để mẹ buông tay
Thề rằng: thôi vậy, con rày không đi
Mẹ cho con ăn gì kẻo đói
570.
Cơm canh vừa ăn khỏi khỏe ngay
Cá em bỏ mứa càng hay
Xôi khô đáy chõ quá ngày còn ngon
Con sẽ đi vào non bắn sóc
Lừa mẹ nghe, anh gấp theo em.
Cơm canh vừa ăn khỏi khỏe ngay
Cá em bỏ mứa càng hay
Xôi khô đáy chõ quá ngày còn ngon
Con sẽ đi vào non bắn sóc
Lừa mẹ nghe, anh gấp theo em.
575.
Phút giây thôi hẫng mắt nhìn
Chồng em quẩy gánh em liền bước theo
Tới rừng ớt em yêu ngồi đợi
Qua rừng cà ngắt trái chờ anh
Nơi chờ em rải lá xanh
Phút giây thôi hẫng mắt nhìn
Chồng em quẩy gánh em liền bước theo
Tới rừng ớt em yêu ngồi đợi
Qua rừng cà ngắt trái chờ anh
Nơi chờ em rải lá xanh
580.
Dành câu nói nhỏ mới đành lòng xa
Không rời, sợ người pha thuốc độc
E chồng em tức bốc thuốc mê
Như bò gặm cỏ ủ ê
Bị nai đến phá ê chề niềm riêng
Dành câu nói nhỏ mới đành lòng xa
Không rời, sợ người pha thuốc độc
E chồng em tức bốc thuốc mê
Như bò gặm cỏ ủ ê
Bị nai đến phá ê chề niềm riêng
585.
Xin được quấn vai em lụa mát
Ủ hương dành đốt xác mai sau[28]
Phút giây còn được bên nhau
Đưa con anh ẵm cùng âu yếm nồng
Cho anh được bế bồng đừng ngượng
Xin được quấn vai em lụa mát
Ủ hương dành đốt xác mai sau[28]
Phút giây còn được bên nhau
Đưa con anh ẵm cùng âu yếm nồng
Cho anh được bế bồng đừng ngượng
590.
Con giống cha, xem Dượng giống không?
Giống em con sẽ trắng hồng
Có hay má lúm lạ lùng giống ai?
Đưa ngón tay để anh đeo nhẫn
Vòng bạc đầy một nén anh trao
Con giống cha, xem Dượng giống không?
Giống em con sẽ trắng hồng
Có hay má lúm lạ lùng giống ai?
Đưa ngón tay để anh đeo nhẫn
Vòng bạc đầy một nén anh trao
595.
Tre vàng bướm nở xôn xao
Yêu em đưa tiễn biết bao dặm trường
Chim chích liệng kêu vàng anh lại
Chim nhạn bay cản lối anh đi
Chia tay thôi tiếc làm chi
Tre vàng bướm nở xôn xao
Yêu em đưa tiễn biết bao dặm trường
Chim chích liệng kêu vàng anh lại
Chim nhạn bay cản lối anh đi
Chia tay thôi tiếc làm chi
600.
Sóng xô bè vỡ…sầu bi tuyệt đường
Chưa trọn ngày yêu thương khoảnh khắc
Của người ta giữ chắc được nào
Cá kia chỉ ở dưới ao
Lúa kia ở ruộng bên nhau khó lìa
Sóng xô bè vỡ…sầu bi tuyệt đường
Chưa trọn ngày yêu thương khoảnh khắc
Của người ta giữ chắc được nào
Cá kia chỉ ở dưới ao
Lúa kia ở ruộng bên nhau khó lìa
605.
Tiễn đến đây anh về em nhé
Em vội kêu: đừng thế anh ơi
Sao Khun Lú[29] đợi góc trời
Mây kia vương vấn bao lời thở than
Ta sẽ xa để thương rơi lệ
Tiễn đến đây anh về em nhé
Em vội kêu: đừng thế anh ơi
Sao Khun Lú[29] đợi góc trời
Mây kia vương vấn bao lời thở than
Ta sẽ xa để thương rơi lệ
610.
Chớ bỏ em đơn lẻ giữa rừng
Đừng buông giữa thác trào dâng
Bên nhau đây thoắt bỗng dưng chia lìa
Hẹn tháng 5 cá về nước đỏ
Đợi tiếng chim Tăng Ló[30] gọi hè
Chớ bỏ em đơn lẻ giữa rừng
Đừng buông giữa thác trào dâng
Bên nhau đây thoắt bỗng dưng chia lìa
Hẹn tháng 5 cá về nước đỏ
Đợi tiếng chim Tăng Ló[30] gọi hè
615.
Lời tình tự lắng say mê
Yêu em anh tiễn đưa về tận nơi
Ta rảo gót đường dài sánh bước
Đi mải mê qua gốc tơ hồng
Nhạn kia quấn quýt vợ chồng
Lời tình tự lắng say mê
Yêu em anh tiễn đưa về tận nơi
Ta rảo gót đường dài sánh bước
Đi mải mê qua gốc tơ hồng
Nhạn kia quấn quýt vợ chồng
620.
Uyên ương ngấp nghé mây lồng cửa hang
Hoa Áy[31] rờn trôi ngang sông Mã
Còn thương, tay gối lả riêng chờ
Rồi ngày nối lại duyên xưa
Tình mường duyên bản chẳng mờ chẳng phai
Uyên ương ngấp nghé mây lồng cửa hang
Hoa Áy[31] rờn trôi ngang sông Mã
Còn thương, tay gối lả riêng chờ
Rồi ngày nối lại duyên xưa
Tình mường duyên bản chẳng mờ chẳng phai
625.
Đưa tiễn tới nơi người bán chiếu
Qua bãi chiều có chợ bán mây
Vượt đèo qua dốc cây xoài
Nơi đàn trâu đứng vươn vai cọ sừng
Đã yêu em đi cùng tới bản
Đưa tiễn tới nơi người bán chiếu
Qua bãi chiều có chợ bán mây
Vượt đèo qua dốc cây xoài
Nơi đàn trâu đứng vươn vai cọ sừng
Đã yêu em đi cùng tới bản
630.
Tiễn đưa nhau đưa thẳng tới nhà
Tiếng đồn gia thế người ta
Tin đưa phóng đại quá đà thuyền voi
Anh nghe đồn bằng đồi núi đá[32]
Nhà chồng em nóc vẽ hoa sen
Tiễn đưa nhau đưa thẳng tới nhà
Tiếng đồn gia thế người ta
Tin đưa phóng đại quá đà thuyền voi
Anh nghe đồn bằng đồi núi đá[32]
Nhà chồng em nóc vẽ hoa sen
635.
Cột kèo chạm Nhạn bay lên
Mái chân gianh xén phẳng trên rui mè
Bàn thờ kê thật to chính giữa
Đến mười voi vào cửa chẳng xiêu
Thoáng trông bạc nén rất nhiều
Cột kèo chạm Nhạn bay lên
Mái chân gianh xén phẳng trên rui mè
Bàn thờ kê thật to chính giữa
Đến mười voi vào cửa chẳng xiêu
Thoáng trông bạc nén rất nhiều
640.
Cột to như đúc, lạt đều vót trơn
Khung bếp nào khác vườn rau lớn
Gian tiếp gian chim lượn trăm vòng
Đến nơi xem lại tiếng đồn:
Ôi thôi, lều lán vây tròn cột lau
Cột to như đúc, lạt đều vót trơn
Khung bếp nào khác vườn rau lớn
Gian tiếp gian chim lượn trăm vòng
Đến nơi xem lại tiếng đồn:
Ôi thôi, lều lán vây tròn cột lau
645.
Vách sậy kề vũng trâu nghiêng ngả
Sàn chênh vênh chồng vợ khó leo
Chim ri ghé đậu cũng xiêu
Chó vào đuôi hở, gà kêu muốn bùng
Xuyên mũi giáo xem chừng thừa cán
Vách sậy kề vũng trâu nghiêng ngả
Sàn chênh vênh chồng vợ khó leo
Chim ri ghé đậu cũng xiêu
Chó vào đuôi hở, gà kêu muốn bùng
Xuyên mũi giáo xem chừng thừa cán
650.
Người đẹp ơi ở Lán sao đành
Lên sàn sợ sụp què chân
Thử qua kẽ mái anh luồn như chim
Lối cửa sổ thử lên như chuột
Như phép thần vọt tới nhà trong
Người đẹp ơi ở Lán sao đành
Lên sàn sợ sụp què chân
Thử qua kẽ mái anh luồn như chim
Lối cửa sổ thử lên như chuột
Như phép thần vọt tới nhà trong
655.
Thang lau em bước lên tầng
Xếp ngồi vái lạy bố chồng ngồi trên
Thấy chồng em bưng liền mâm tới
Cá gói ư? Toàn gói rau rừng
Không ăn, bụng đã đói mềm
Thang lau em bước lên tầng
Xếp ngồi vái lạy bố chồng ngồi trên
Thấy chồng em bưng liền mâm tới
Cá gói ư? Toàn gói rau rừng
Không ăn, bụng đã đói mềm
660.
Ăn vào tắc họng như tên bắn vào
Anh xin nhủ em yêu hết nhẽ
Dặn em yêu phải kể hết lời
Bậc thang trên nhớ chớ ngồi
Gặp anh chồng: chớ lả lơi chuyện trò
Ăn vào tắc họng như tên bắn vào
Anh xin nhủ em yêu hết nhẽ
Dặn em yêu phải kể hết lời
Bậc thang trên nhớ chớ ngồi
Gặp anh chồng: chớ lả lơi chuyện trò
665.
Chiếu bố chồng có cho chẳng ngủ
Gối anh chồng chớ có vịn qua[33]
Chớ nên chửi lợn mắng gà
Con thơ khóc quấy chớ mà rủa con.
Con làm sao đâu con bù xứng
Chiếu bố chồng có cho chẳng ngủ
Gối anh chồng chớ có vịn qua[33]
Chớ nên chửi lợn mắng gà
Con thơ khóc quấy chớ mà rủa con.
Con làm sao đâu con bù xứng
670.
Phải dỗ dành ẵm nựng hát ru
Đi nương chớ gỡ chấy ra
Về nhà đừng ngắm bóng ta trong nồi
Đặt con vào trong nôi chớ ngủ
Trái tim yêu tình cũ chớ quên
Phải dỗ dành ẵm nựng hát ru
Đi nương chớ gỡ chấy ra
Về nhà đừng ngắm bóng ta trong nồi
Đặt con vào trong nôi chớ ngủ
Trái tim yêu tình cũ chớ quên
675.
Xin đừng nói xấu cô em
Anh chồng cùng bố mẹ bên nhà chồng
Bởi xung quanh những ông bà bác
Ăn ở mà trái phép khó xin
Luật kia phạm lấy chi đền
Xin đừng nói xấu cô em
Anh chồng cùng bố mẹ bên nhà chồng
Bởi xung quanh những ông bà bác
Ăn ở mà trái phép khó xin
Luật kia phạm lấy chi đền
680.
Cúng gà lễ lợn, tốn tiền, kiếm đâu?
Nhà lắm khách đến sao hay đến
Có con gà mẹ tiễn đưa chân
Rắc ngô em gọi tới gần
Nhanh tay chộp được, chẳng cần tăng gia
Cúng gà lễ lợn, tốn tiền, kiếm đâu?
Nhà lắm khách đến sao hay đến
Có con gà mẹ tiễn đưa chân
Rắc ngô em gọi tới gần
Nhanh tay chộp được, chẳng cần tăng gia
685.
Thôi, cắt tiết… lệ sa thương qúa
Thôi, vặt lông… nhà lạ vặt đâu
Cạnh thang: e mẹ càu nhàu
Ra ngoài mé cửa, suối sâu em làm
Bỏ nồi luộc nồi gang chóng được
Thôi, cắt tiết… lệ sa thương qúa
Thôi, vặt lông… nhà lạ vặt đâu
Cạnh thang: e mẹ càu nhàu
Ra ngoài mé cửa, suối sâu em làm
Bỏ nồi luộc nồi gang chóng được
690.
Canh cá sôi lục sục chóng ăn
Lại nghe vịt lẩn vào vườn
Mặc cho dâu mới lẹ luồn đuổi ra
Xùa ruộng dưới vịt đà xáo xác
Lùa ruộng trên”càng cạc” om xòm
Canh cá sôi lục sục chóng ăn
Lại nghe vịt lẩn vào vườn
Mặc cho dâu mới lẹ luồn đuổi ra
Xùa ruộng dưới vịt đà xáo xác
Lùa ruộng trên”càng cạc” om xòm
696.
Quá trưa bụng chửa hạt cơm
Hết hơi đuổi vịt vào vườn le te
Áo váy ướt khó bề phơi phóng
Đâu cũng người cửa đóng then cài
Em đành áo ướt vậy thôi
Quá trưa bụng chửa hạt cơm
Hết hơi đuổi vịt vào vườn le te
Áo váy ướt khó bề phơi phóng
Đâu cũng người cửa đóng then cài
Em đành áo ướt vậy thôi
700.
Cơm canh đã hết rã rời chân tay.
Cũng còn may chồng thương phần để
Canh lòng tòng bát mẻ dính trôn
Canh tôm còn lại đuôi tôm
Cá thì đầu vẩy, gà còn cánh chân
Cơm canh đã hết rã rời chân tay.
Cũng còn may chồng thương phần để
Canh lòng tòng bát mẻ dính trôn
Canh tôm còn lại đuôi tôm
Cá thì đầu vẩy, gà còn cánh chân
705.
Cánh gà nhọn, xương gân khó gặm
Khuỷu chân khô khó cắn móng dai
Chấm thì sợ ngượng khách chơi
Chan thì xấu hổ khách mời cười cho
Ôi khác hẳn ở nhà cha mẹ
Cánh gà nhọn, xương gân khó gặm
Khuỷu chân khô khó cắn móng dai
Chấm thì sợ ngượng khách chơi
Chan thì xấu hổ khách mời cười cho
Ôi khác hẳn ở nhà cha mẹ
710.
Thuở bé thơ cha dỗ mẹ dành
Con rô con riếc chê tanh
“Nuôi con bằng nhện” nay đành vậy thôi.
Thuở bé thơ cha dỗ mẹ dành
Con rô con riếc chê tanh
“Nuôi con bằng nhện” nay đành vậy thôi.
Phần cuối:
Khi chưa lấy thì người vồ vập
Sắp đón về tấp nập xum xoe
Sắp đón về tấp nập xum xoe
715.
Lấy rồi, người mắng người chê
Bắt ăn cám lợn, kéo bè đánh cho
Chồng em tốt, tảng lờ chẳng đánh
Cha mẹ chồng thác bệnh không ăn
Chồng em buộc phải đánh càn
Lấy rồi, người mắng người chê
Bắt ăn cám lợn, kéo bè đánh cho
Chồng em tốt, tảng lờ chẳng đánh
Cha mẹ chồng thác bệnh không ăn
Chồng em buộc phải đánh càn
720.
Gậy phang tới tấp lệch sườn, vẹo lưng
Em yếu mỏng ngã lăn nghiêng ngả
Ngất xỉu đi, anh ngỡ ngủ quên[34]
Nâng phủi sạch, dậy đi em
Tóc đưa anh gỡ, búi lên đỉnh đầu
Gậy phang tới tấp lệch sườn, vẹo lưng
Em yếu mỏng ngã lăn nghiêng ngả
Ngất xỉu đi, anh ngỡ ngủ quên[34]
Nâng phủi sạch, dậy đi em
Tóc đưa anh gỡ, búi lên đỉnh đầu
725.
Chặt tre tốt về “sao” lấy thuốc
Thuốc tre rừng hết buốt hết đau
Tơ vò ta gỡ cùng nhau
Cùng nhau tơ rối lựa mau quay guồng
Guồng gỗ tốt cán thuôn quay tít
Chặt tre tốt về “sao” lấy thuốc
Thuốc tre rừng hết buốt hết đau
Tơ vò ta gỡ cùng nhau
Cùng nhau tơ rối lựa mau quay guồng
Guồng gỗ tốt cán thuôn quay tít
730.
Quay trở về tình đẹp ngày xưa
Dù có chết,”ảnh” chẳng mờ
Thành sông uống mát, thành bờ dây leo
Chết thành bèo: ao chung cùng nổi
Chết thành hồn: một mái ở chung
Quay trở về tình đẹp ngày xưa
Dù có chết,”ảnh” chẳng mờ
Thành sông uống mát, thành bờ dây leo
Chết thành bèo: ao chung cùng nổi
Chết thành hồn: một mái ở chung
735.
Gốc dưa yêu mọc bãi sông
Nước xin đừng ngập, mặn nồng tình trao
Như Lú – Ủa thành Sao chẳng lạc
Như trâu chuồng, tiền bạc trong kho
Thương nhau chẳng có bến bờ
Gốc dưa yêu mọc bãi sông
Nước xin đừng ngập, mặn nồng tình trao
Như Lú – Ủa thành Sao chẳng lạc
Như trâu chuồng, tiền bạc trong kho
Thương nhau chẳng có bến bờ
740.
Như vàng đá tạc nên thơ trọn đời
Cho dù cháy sạch đồi gỗ cứng
Lòng dạ ta bền vững thiên thu
Đưa em đưa đến tận nhà
Dặn em mọi nhẽ toàn là lời thương
Như vàng đá tạc nên thơ trọn đời
Cho dù cháy sạch đồi gỗ cứng
Lòng dạ ta bền vững thiên thu
Đưa em đưa đến tận nhà
Dặn em mọi nhẽ toàn là lời thương
745.
Ngày sinh nhật chớ bươn rừng thẳm
Giỗ ông bà chớ lảng ra sông
Nấu đun nhặt rác ngoài sân
Ngọn chàm cứ bẻ khi cần đồ xôi
Dấm chua bỏ gừng ôi cho hỏng
Ngày sinh nhật chớ bươn rừng thẳm
Giỗ ông bà chớ lảng ra sông
Nấu đun nhặt rác ngoài sân
Ngọn chàm cứ bẻ khi cần đồ xôi
Dấm chua bỏ gừng ôi cho hỏng
750.
Gieo dưa lên chỗ đứng cột nhà
Dây leo lên cả ban thờ
Trồng khoai cạnh bếp để bò lung tung
Rửa ốc rửa từng con cho tức
Rửa bát lắc cả rổ cho tan
Gieo dưa lên chỗ đứng cột nhà
Dây leo lên cả ban thờ
Trồng khoai cạnh bếp để bò lung tung
Rửa ốc rửa từng con cho tức
Rửa bát lắc cả rổ cho tan
755.
Rửa muôi gõ sứt miệng chum
Làm ra ngang ngạnh chồng hờn chồng chê
Chồng giận bỏ, được về đâu sợ
Ta lấy nhau, phận lỡ thương nhau
Duyên ôi, tình ế vẫn cầu
Rửa muôi gõ sứt miệng chum
Làm ra ngang ngạnh chồng hờn chồng chê
Chồng giận bỏ, được về đâu sợ
Ta lấy nhau, phận lỡ thương nhau
Duyên ôi, tình ế vẫn cầu
760.
Yêu nên còn mãi một màu đẹp tươi
Dù chết chẳng quên người tình cũ
Hồn trên mây vẫn nhớ tình xưa
Bến mê sông lú dật dờ
Đừng quên bông bụt tuổi thơ thuở nào
Yêu nên còn mãi một màu đẹp tươi
Dù chết chẳng quên người tình cũ
Hồn trên mây vẫn nhớ tình xưa
Bến mê sông lú dật dờ
Đừng quên bông bụt tuổi thơ thuở nào
765.
Ngăn cơn lũ bờ ao chớ bỏ
Lấy nước lên phải nhớ mương phai
Cuốc kêu, gà gáy nhớ hoài
Tóc cao “tăng cẩu” chớ sai lời nguyền
Gạo vào cối chớ quên chày giã
Ngăn cơn lũ bờ ao chớ bỏ
Lấy nước lên phải nhớ mương phai
Cuốc kêu, gà gáy nhớ hoài
Tóc cao “tăng cẩu” chớ sai lời nguyền
Gạo vào cối chớ quên chày giã
770.
Cơm vào mồm chớ nhả cơm khê
Cho dù mọc lá cọc tre
Dâu thành rừng rút lời thề chẳng phai
Gieo kê biến thành hai bãi cát
Gạc nai thành tê giác hãy quên.
Cơm vào mồm chớ nhả cơm khê
Cho dù mọc lá cọc tre
Dâu thành rừng rút lời thề chẳng phai
Gieo kê biến thành hai bãi cát
Gạc nai thành tê giác hãy quên.
775.
Tóc trên đầu búi chẳng nên
Cá cua biết hát thì em quên chờ.
Sông Mã cạn lòng trơ bằng đĩa
Sông Đà nông bằng đũa hãy quên
Cá măng vùng đớp sao đêm
Tóc trên đầu búi chẳng nên
Cá cua biết hát thì em quên chờ.
Sông Mã cạn lòng trơ bằng đĩa
Sông Đà nông bằng đũa hãy quên
Cá măng vùng đớp sao đêm
780.
Vàng anh ăn mía thì em quên chờ
Nay Sáo, Yểng rủ về anh hỡi
Voi lẻ đàn lủi thủi anh đi
Mía kia anh đẵn làm gì
Lấy chồng bảy kiếp, tình si vẫn tình.
Vàng anh ăn mía thì em quên chờ
Nay Sáo, Yểng rủ về anh hỡi
Voi lẻ đàn lủi thủi anh đi
Mía kia anh đẵn làm gì
Lấy chồng bảy kiếp, tình si vẫn tình.
785.
Mau hãy lớn trúc xinh mơn mởn
Chuối mọc nhanh thành khóm chuối cao
Voi qua chớ để chúng vào
Xanh um chắc rễ thì thào gió qua.
Vườn gừng héo đôi ta không lỗi
Mau hãy lớn trúc xinh mơn mởn
Chuối mọc nhanh thành khóm chuối cao
Voi qua chớ để chúng vào
Xanh um chắc rễ thì thào gió qua.
Vườn gừng héo đôi ta không lỗi
790.
Vườn riềng vàng chẳng đổi thay lòng
Thác cùng cá trắm đuôi cong
Chết cùng cá chép… chết cùng bên nhau
Lòng thương chặn sông Thao, sông Mã
Cá lìa đàn quẫy phá văng xa
Vườn riềng vàng chẳng đổi thay lòng
Thác cùng cá trắm đuôi cong
Chết cùng cá chép… chết cùng bên nhau
Lòng thương chặn sông Thao, sông Mã
Cá lìa đàn quẫy phá văng xa
795.
Thôi chào em, trở về nhà
Em rằng: I-liếng tài hoa chớ buồn
Cầu anh đi đúng đường chớ lạc
Phận em nghèo tiền bạc đâu lo
Nhẽ ra xôi đỗ gà giò
Thôi chào em, trở về nhà
Em rằng: I-liếng tài hoa chớ buồn
Cầu anh đi đúng đường chớ lạc
Phận em nghèo tiền bạc đâu lo
Nhẽ ra xôi đỗ gà giò
800.
Còn đây xôi hẩm chẳng vò mà đau
Rời bản em sang cầu đường lớn
Chừng còn nghe văng vẳng em than
Tiếng như kêu trách chồng con
Nhanh chân anh vượt qua non lúc nào.
Còn đây xôi hẩm chẳng vò mà đau
Rời bản em sang cầu đường lớn
Chừng còn nghe văng vẳng em than
Tiếng như kêu trách chồng con
Nhanh chân anh vượt qua non lúc nào.
805.
Chẳng còn nghe em yêu cười nói
Thương khóm rau nhỏ nhói vườn to
Vừa lên đã ngắt về đồ
Đang mùa hoa gạo vật vờ bóng em.
Núi tiếp núi rừng lim thăm thẳm
Chẳng còn nghe em yêu cười nói
Thương khóm rau nhỏ nhói vườn to
Vừa lên đã ngắt về đồ
Đang mùa hoa gạo vật vờ bóng em.
Núi tiếp núi rừng lim thăm thẳm
810.
Đã thương nhau đừng chán quên nhau
Chán nhau nhựa trám quện mau
Hai đuôi con mắt, vai, đầu quện thương
Như cánh chim nẻo đường sa mạc
Bay về em hồ mát nước trong
Đã thương nhau đừng chán quên nhau
Chán nhau nhựa trám quện mau
Hai đuôi con mắt, vai, đầu quện thương
Như cánh chim nẻo đường sa mạc
Bay về em hồ mát nước trong
815.
Nhớ em trong mộng về thăm
Mường xa bảy cõi xin đừng quên thương
Quả bí ngô sọc vàng sọc trắng
Gốc tơ hồng giữa bản đâm bông
Hoa sao hoa thắm lạ lùng
Nhớ em trong mộng về thăm
Mường xa bảy cõi xin đừng quên thương
Quả bí ngô sọc vàng sọc trắng
Gốc tơ hồng giữa bản đâm bông
Hoa sao hoa thắm lạ lùng
820.
Những mơ ngà ngọc lượn vòng quanh hoa
Hoa Áy tỏa hương qua sông Mã
Áo chàm xanh lấp ló kìa ai
Mải băng đồng rộng bãi dài
Bẻ cây ngồi nghỉ, mệt nhoài buồn thay.
Những mơ ngà ngọc lượn vòng quanh hoa
Hoa Áy tỏa hương qua sông Mã
Áo chàm xanh lấp ló kìa ai
Mải băng đồng rộng bãi dài
Bẻ cây ngồi nghỉ, mệt nhoài buồn thay.
825.
Bẻ cây còn vết tay in dấu
Không thư từ đau đáu nhớ mong
Buồn tình mới chặt tàu dong
Hóa trăm buồng chuối cũng không hết sầu
Trồng khoai hóa dây bầu phép lạ
Bẻ cây còn vết tay in dấu
Không thư từ đau đáu nhớ mong
Buồn tình mới chặt tàu dong
Hóa trăm buồng chuối cũng không hết sầu
Trồng khoai hóa dây bầu phép lạ
830.
Em lấy chồng, ta đã tiễn nhau
Gặt ăn măng đắng rau bầu
Trai thanh gái lịch ngõ hầu giúp ta?
Tình đã lỡ thành ra duyên trái
Gió sông Đà quằn quại sóng xô
Em lấy chồng, ta đã tiễn nhau
Gặt ăn măng đắng rau bầu
Trai thanh gái lịch ngõ hầu giúp ta?
Tình đã lỡ thành ra duyên trái
Gió sông Đà quằn quại sóng xô
835.
Nhắn cùng bác lái vô tư
Tàu dong lá nhỏ nghiêng từ dốc cao.
Ngắt lá dong anh chao đơm cá
Yêu một người thương nhớ một người
Xa nhau nằm đất lạ hơi
Nhắn cùng bác lái vô tư
Tàu dong lá nhỏ nghiêng từ dốc cao.
Ngắt lá dong anh chao đơm cá
Yêu một người thương nhớ một người
Xa nhau nằm đất lạ hơi
840.
Nằm lều lá chuối lạnh phơi sương rừng.
Anh rảo bước về mường bản vắng
Ăn miếng xôi dính cắm đầu tên
Đêm chừng ma quấy phát điên
Nhớ thương phát ốm, mẹ phiền hoảng lo.
Nằm lều lá chuối lạnh phơi sương rừng.
Anh rảo bước về mường bản vắng
Ăn miếng xôi dính cắm đầu tên
Đêm chừng ma quấy phát điên
Nhớ thương phát ốm, mẹ phiền hoảng lo.
845.
Đã yêu nhau nằm mơ thấy mặt
Mây mù trôi sao dạt mênh mông
Khói sương cầu nguyện ước lành
Phân thân anh, nửa hóa thành thân em.
Năm sắp hết trải trên ba vụ
Đã yêu nhau nằm mơ thấy mặt
Mây mù trôi sao dạt mênh mông
Khói sương cầu nguyện ước lành
Phân thân anh, nửa hóa thành thân em.
Năm sắp hết trải trên ba vụ
850.
Đã bốn mùa cá lũ trôi xuôi
Đường tình mẹ cản không rời
Cha răn em chỉ lặng cười trông xa.
Cha mẹ chồng nói qua nói lại:
Nàng dâu lười rau hái vài cây.
Đã bốn mùa cá lũ trôi xuôi
Đường tình mẹ cản không rời
Cha răn em chỉ lặng cười trông xa.
Cha mẹ chồng nói qua nói lại:
Nàng dâu lười rau hái vài cây.
855.
Nấu canh chẳng được bát đầy
Gỏi thái miếng mỏng chẳng tầy thái vuông.
Tiếng như thể choang choang sét đánh:
Vải khổ năm không khiến dệt xe
Không cho bưng biếu nhà Phìa
Nấu canh chẳng được bát đầy
Gỏi thái miếng mỏng chẳng tầy thái vuông.
Tiếng như thể choang choang sét đánh:
Vải khổ năm không khiến dệt xe
Không cho bưng biếu nhà Phìa
860.
Thân không đáng giá bạc chìa ba dây.
Nói thì ngại nhà đây tan nát
Nợ nhà mày số bạc cưới cheo
Bạc mười sáu chửa trả theo
Vải năm trăm chửa đủ nhiều mua em.
Thân không đáng giá bạc chìa ba dây.
Nói thì ngại nhà đây tan nát
Nợ nhà mày số bạc cưới cheo
Bạc mười sáu chửa trả theo
Vải năm trăm chửa đủ nhiều mua em.
865.
Chồng em bảo:”nước trên nguồn đổ
Nó không hay ta trả nó về”
Ý chừng họ đuổi em đi
Cực thân lệ rỏ dầm dề tràn mương.
Lệ rơi đủ chan cơm rửa mặt
Chồng em bảo:”nước trên nguồn đổ
Nó không hay ta trả nó về”
Ý chừng họ đuổi em đi
Cực thân lệ rỏ dầm dề tràn mương.
Lệ rơi đủ chan cơm rửa mặt
870.
Một dòng đầy đủ luộc trâu to
Một dòng đủ ắp lên hồ
Để cho em tắm như xưa họ “chài”
Em vạn lạy: xin người tha lỗi
Con xin làm sớm tối dâu hiền
Một dòng đầy đủ luộc trâu to
Một dòng đủ ắp lên hồ
Để cho em tắm như xưa họ “chài”
Em vạn lạy: xin người tha lỗi
Con xin làm sớm tối dâu hiền
875.
Cúng gà người cũng chẳng thèm
Cúng voi người ngoảnh mặt xem gọi là
Những thứ ấy sao mà em có
Phận nghèo hèn khốn khó kiếm đâu
Người xui chồng nện thật đau
Cúng gà người cũng chẳng thèm
Cúng voi người ngoảnh mặt xem gọi là
Những thứ ấy sao mà em có
Phận nghèo hèn khốn khó kiếm đâu
Người xui chồng nện thật đau
880.
Gậy phang chập tối, đêm thâu, sáng mờ
Chồng đánh em như vồ nện bịch
Như Tạo Mường vui thích đánh chuông
Đuổi em, dao quẳng xuống sàn
Guồng tơ khung cửi đạp tan… đuổi về.
Gậy phang chập tối, đêm thâu, sáng mờ
Chồng đánh em như vồ nện bịch
Như Tạo Mường vui thích đánh chuông
Đuổi em, dao quẳng xuống sàn
Guồng tơ khung cửi đạp tan… đuổi về.
885.
Em đành trở về quê với ngoại
Thân một mình bải hoải bơ vơ
Khi đi bác mẹ tiễn đưa
Trở về rũ rượi như cờ vô phong
Mong người yêu lại không thấy lại
Em đành trở về quê với ngoại
Thân một mình bải hoải bơ vơ
Khi đi bác mẹ tiễn đưa
Trở về rũ rượi như cờ vô phong
Mong người yêu lại không thấy lại
890.
Nước ngăn rồi quên khuấy đập cao
Cá ăn vứt đó bờ rào
Đi xa quên áo ai nào nhớ ai.
Gần người khác quên hơi bạn cũ
Mùa hoa sung đã lỡ qua rồi
Nước ngăn rồi quên khuấy đập cao
Cá ăn vứt đó bờ rào
Đi xa quên áo ai nào nhớ ai.
Gần người khác quên hơi bạn cũ
Mùa hoa sung đã lỡ qua rồi
895.
Mẹ cha trông xuống bồi hồi:
Ai kia gồng gánh tả tơi dưới nhà?
Trông áo đen ngỡ là áo sẫm
Ai kia gần kỹ ngắm là em
- Chao ôi, gái quí mẹ hiền
Mẹ cha trông xuống bồi hồi:
Ai kia gồng gánh tả tơi dưới nhà?
Trông áo đen ngỡ là áo sẫm
Ai kia gần kỹ ngắm là em
- Chao ôi, gái quí mẹ hiền
900.
Mẹ cha hốt hoảng kêu lên…em về!
Hỏi sao một mình đi như thế
Hay như voi chẳng thể xa rừng
Con yêu nhớ mẹ cha hiền
Chẳng quên người cũ bỏ liền về đây?
Mẹ cha hốt hoảng kêu lên…em về!
Hỏi sao một mình đi như thế
Hay như voi chẳng thể xa rừng
Con yêu nhớ mẹ cha hiền
Chẳng quên người cũ bỏ liền về đây?
905.
Em ngắc ngứ: con nay kiệt sức
Việc nhà chồng cật lực chẳng xong
Đêm nằm không mảnh lót lưng
Cơm ăn như cát đói từng đêm đêm.
Làm chẳng nên người xua người chửi
Em ngắc ngứ: con nay kiệt sức
Việc nhà chồng cật lực chẳng xong
Đêm nằm không mảnh lót lưng
Cơm ăn như cát đói từng đêm đêm.
Làm chẳng nên người xua người chửi
910.
Việc làm ăn chưa giỏi người la
Tiếng đồn em bỏ về nhà
Về xuôi lên ngược quá đà mũi tên
Chẳng phải góa, đôi bên từ giã
Trở về nhà như lạ như quen
Việc làm ăn chưa giỏi người la
Tiếng đồn em bỏ về nhà
Về xuôi lên ngược quá đà mũi tên
Chẳng phải góa, đôi bên từ giã
Trở về nhà như lạ như quen
915.
Nghe tin có mối đến liền
Cau buồng, cá gói cầm lên hỏi nài
Cha mẹ bảo: bớt chài suối hẹp
Gái lỡ làng, tiền cược hạ thôi
Người khiêng lợn cưới đến nơi[35]
Nghe tin có mối đến liền
Cau buồng, cá gói cầm lên hỏi nài
Cha mẹ bảo: bớt chài suối hẹp
Gái lỡ làng, tiền cược hạ thôi
Người khiêng lợn cưới đến nơi[35]
920.
Mồng hai làm cỗ xin đòi đón dâu
Trong nhà rượu cùng nhau mời mọc
Hòm xiểng đi đã sắp ngoài sân
Lao xao nắng xế non ngàn
Buồng cau trong thúng, họ hàng tiễn đưa.
Mồng hai làm cỗ xin đòi đón dâu
Trong nhà rượu cùng nhau mời mọc
Hòm xiểng đi đã sắp ngoài sân
Lao xao nắng xế non ngàn
Buồng cau trong thúng, họ hàng tiễn đưa.
925.
Nhà trai đón giữa trưa tất tưởi
Tóc búi cao, chồng mới em theo
Trái tim xưa vẫn còn treo
Anh ở đâu? Vía còn đeo trong hồn.
Về chồng mới em buồn, cáu gắt
Nhà trai đón giữa trưa tất tưởi
Tóc búi cao, chồng mới em theo
Trái tim xưa vẫn còn treo
Anh ở đâu? Vía còn đeo trong hồn.
Về chồng mới em buồn, cáu gắt
930.
Phơi thóc thì mắng cót chửi sàn
Hạch chồng giữa chốn làm Quan
Vào nhà cười bác, ra sàn khích anh.
Nói xấu mẹ, đành hanh với bố
Vào bếp chân đá đổ chậu nồi
Phơi thóc thì mắng cót chửi sàn
Hạch chồng giữa chốn làm Quan
Vào nhà cười bác, ra sàn khích anh.
Nói xấu mẹ, đành hanh với bố
Vào bếp chân đá đổ chậu nồi
935.
Dỡ xôi làm vỡ mâm xôi
Khách vào, mặc áo để lòi vú ra
Vú quả mướp vòng ba vòng bảy
Ngủ đệm chê… rận chấy như sung
Tỉnh ra lại mắng nhiếc chồng
Dỡ xôi làm vỡ mâm xôi
Khách vào, mặc áo để lòi vú ra
Vú quả mướp vòng ba vòng bảy
Ngủ đệm chê… rận chấy như sung
Tỉnh ra lại mắng nhiếc chồng
940.
Tóc em thì chải ngược, ghế lồng lật ngang
Cha mẹ than: mua Nàng dâu dữ
Nhà chẳng yên, xấu hổ, cơm toi
Bạc mười ta trả đủ rồi
Thôi tống ra chợ lấy mươi ba đồng.
Tóc em thì chải ngược, ghế lồng lật ngang
Cha mẹ than: mua Nàng dâu dữ
Nhà chẳng yên, xấu hổ, cơm toi
Bạc mười ta trả đủ rồi
Thôi tống ra chợ lấy mươi ba đồng.
945.
Đổi gạo chẳng ai màng đến đổi
Đổi muối chẳng ai tới đổi cho
Nghìn lần, chín chợ vòng vo
Lá dong một cuốn đổi cho xong đời
Trớ trêu lại về người tình cũ[36]
Đổi gạo chẳng ai màng đến đổi
Đổi muối chẳng ai tới đổi cho
Nghìn lần, chín chợ vòng vo
Lá dong một cuốn đổi cho xong đời
Trớ trêu lại về người tình cũ[36]
950.
Ngôi nhà xưa anh ở em yêu
Chàng đâu biết, mặc em theo
Để ngoài cối gạo sớm chiều chớ thây.
Chồng mới đưa dao dầy, rựa mỏng
Đưa giần sàng, củi cám…khoán cho
Lòng riêng một mối tơ vò
Kêu ca cùng lợn, tựa lò thở than.
Tưởng mong gặp được làm vợ quý.
Thành vợ yêu mới mẻ bên chàng
Mà nay bỏ dưới gầm sàn
Ngôi nhà xưa anh ở em yêu
Chàng đâu biết, mặc em theo
Để ngoài cối gạo sớm chiều chớ thây.
Chồng mới đưa dao dầy, rựa mỏng
Đưa giần sàng, củi cám…khoán cho
Lòng riêng một mối tơ vò
Kêu ca cùng lợn, tựa lò thở than.
Tưởng mong gặp được làm vợ quý.
Thành vợ yêu mới mẻ bên chàng
Mà nay bỏ dưới gầm sàn
960.
Để vương khói bếp phủ làn tóc tro
Mắt trộm ngó bạn xưa tình tự
Em mới thưa: đây có vật tin
Đàn môi xin gửi anh nhìn
Đàn môi em gảy bạn tình nhớ chăng?
Để vương khói bếp phủ làn tóc tro
Mắt trộm ngó bạn xưa tình tự
Em mới thưa: đây có vật tin
Đàn môi xin gửi anh nhìn
Đàn môi em gảy bạn tình nhớ chăng?
965.
Chàng mới bảo: tiếng đàn kẻ khó
Kẻ hèn kia sao có đàn môi?
Tình tang một khúc bên trời
Thoảng chừng đàn giống tiếng lời ngày xưa?
Chàng dò hỏi thuở vừa đôi tám
Chàng mới bảo: tiếng đàn kẻ khó
Kẻ hèn kia sao có đàn môi?
Tình tang một khúc bên trời
Thoảng chừng đàn giống tiếng lời ngày xưa?
Chàng dò hỏi thuở vừa đôi tám
970.
Mới nhận ra ôi bạn trăm năm
Thỏa tình yên trí làm ăn
Mắt thương soi mắt ăn nằm có nhau
Cành ban nở bên cầu vừa thấy
Sắm lụa là may váy em thương
Mới nhận ra ôi bạn trăm năm
Thỏa tình yên trí làm ăn
Mắt thương soi mắt ăn nằm có nhau
Cành ban nở bên cầu vừa thấy
Sắm lụa là may váy em thương
975.
Lại như hoa sớm ngậm sương
Như gái Mường Muổi khăn hường thêu chim[37]
Đã nên duyên thì xin chớ phụ
Yêu đến khi tóc ngả hoa râm
Đến khi đầu bạc răng long
Lại như hoa sớm ngậm sương
Như gái Mường Muổi khăn hường thêu chim[37]
Đã nên duyên thì xin chớ phụ
Yêu đến khi tóc ngả hoa râm
Đến khi đầu bạc răng long
980.
Chẳng chê vụng dại cũng không chê lười.
Muối dưa chớ cười dưa chua quá
Rượu ủ lâu đắng lạ chớ chê
Bên nhau hạnh phúc thỏa thuê
Nhờ trời phù hộ em về cùng anh
Chẳng chê vụng dại cũng không chê lười.
Muối dưa chớ cười dưa chua quá
Rượu ủ lâu đắng lạ chớ chê
Bên nhau hạnh phúc thỏa thuê
Nhờ trời phù hộ em về cùng anh
985.
Còn vợ cũ duyên tình chẳng bén
Nàng có công vun vén cửa nhà
Anh chìa vàng bạc lụa là
Tiễn người vợ cũ có xa đừng phiền.
Em yêu nói: trầu têm đừng chặt
Còn vợ cũ duyên tình chẳng bén
Nàng có công vun vén cửa nhà
Anh chìa vàng bạc lụa là
Tiễn người vợ cũ có xa đừng phiền.
Em yêu nói: trầu têm đừng chặt
990.
Têm chặt e vôi gắt trầu non
Yêu nhau yêu nóng chóng mòn
Bình tâm sắp đặt, bản mường khó chê
Người ấy bảo: mọi bề em chịu
Đừng vứt em như xéo lá bay
Têm chặt e vôi gắt trầu non
Yêu nhau yêu nóng chóng mòn
Bình tâm sắp đặt, bản mường khó chê
Người ấy bảo: mọi bề em chịu
Đừng vứt em như xéo lá bay
995.
Em xin giã gạo đỡ chày
Em xin phơi lúa đổi tay đỡ chàng
Đã có kiềng xin làm gạch cạnh
Gặp chị xưa, xin phận thứ hai
Chịu đau được đỡ đầu roi
Em xin giã gạo đỡ chày
Em xin phơi lúa đổi tay đỡ chàng
Đã có kiềng xin làm gạch cạnh
Gặp chị xưa, xin phận thứ hai
Chịu đau được đỡ đầu roi
1000.
Được che ngọn kiếm chịu lời nhỏ to
Làm đầy tớ sớm khuya hầu rượu
Làm kẻ hầu buồng chiếu vợ chàng
Ngoài hiên nằm ngủ cũng cam
Cúi xin anh chị được làm vợ hai.
Được che ngọn kiếm chịu lời nhỏ to
Làm đầy tớ sớm khuya hầu rượu
Làm kẻ hầu buồng chiếu vợ chàng
Ngoài hiên nằm ngủ cũng cam
Cúi xin anh chị được làm vợ hai.
1005.
Chàng mới bảo: chớ nài nèo nã
Nhà rác đầy bởi vỏ măng tre
Hay gì cả lẽ, đa thê
Quanh năm xích mích, trở về đi thôi!
Người vợ cũ tìm lời dặn lại
Chàng mới bảo: chớ nài nèo nã
Nhà rác đầy bởi vỏ măng tre
Hay gì cả lẽ, đa thê
Quanh năm xích mích, trở về đi thôi!
Người vợ cũ tìm lời dặn lại
1010.
Xin chào anh má ấp vai kề
Chào con nhỏ để mẹ đi
Về ông bà ngoại cùng dì cậu ta.
Trông ra thấy có hoa cài tóc
Khăn piêu đen phất tỏa đuôi voi
Xin chào anh má ấp vai kề
Chào con nhỏ để mẹ đi
Về ông bà ngoại cùng dì cậu ta.
Trông ra thấy có hoa cài tóc
Khăn piêu đen phất tỏa đuôi voi
1015.
Nàng đi nàng đã đi rồi
Chàng thương đưa tận ra ngoài đường quan.
Xin chúc cô bình an lành lặn
Giữ gìn đừng dãi nắng dầm mưa
Đồi dong chớp nhoáng bên bờ
Nàng đi nàng đã đi rồi
Chàng thương đưa tận ra ngoài đường quan.
Xin chúc cô bình an lành lặn
Giữ gìn đừng dãi nắng dầm mưa
Đồi dong chớp nhoáng bên bờ
1020.
Mưa sa núi trám gió đưa bước nàng.
Trời xui khiến bên chàng nên vợ
Trúng hồng tâm mũi nỏ thần yêu
Chỉ vào guồng cuộn tơ gieo
An cư lạc nghiệp bao nhiêu là tình.
Mưa sa núi trám gió đưa bước nàng.
Trời xui khiến bên chàng nên vợ
Trúng hồng tâm mũi nỏ thần yêu
Chỉ vào guồng cuộn tơ gieo
An cư lạc nghiệp bao nhiêu là tình.
Hà Nội, ngày 26 tháng 12 năm 1995.
[2] Người Thái có tập quán đẻ ngồi cho rằng hễ là con trai thì đứa bé rơi sấp, là con gái thì đứa bé rơi ngửa
[11] Ý
đoạn này là âm mưu kế “hoãn binh” của cô gái, cứ tạm bằng lòng để cho
“Người ấy” (không phải người yêu) đến ở rể một thời gian thử thách theo
phong tục từ ba tháng đến ba năm, có đạt yêu cầu mới cho làm lễ chung
chăn, chính thức thành rể. Nếu không đạt thì sẽ bị đuổi về…
[22] Tục
lệ người Thái khi mới đến ở rể phải thử thách một thời gian dài( ngủ
riêng ở đầu hồi nhà, khi hai bên đã ưng nhau mới được kéo chăn, dịch đệm
lại gần nhau làm lễ chung chăn “Sú phả”)
[26] Tục hát Hạn Khuống ở nơi sàn hoa ngoài trời, đêm đêm nhen bếp lửa, trai gái Thái gặp gỡ giao duyên.
[29] Theo
truyện thơ Khun Lú – nàng Uả của dân tộc Khơmú,hai người yêu nhau không
lấy được nhau biến thành hai ngôi sao như sao Hôm , sao Mai.
[33] Tục
kiêng kị, cả đoạn này anh dặn dò chị phải giữ gìn đúng tục lệ để tránh
bị phạt vạ theo luật tục Thái, chỉ riêng ”trái tim” thì đừng quên tình
cũ (là anh)
[34] Lúc này anh người yêu vẫn đang còn tiễn dặn vừa đến bên nhà chồng,được chứng kiến cảnh nhà chồng hành hạ nàng dâu mới
[35] Tục
lệ cũ, lấy người đã qua một đời chồng thì giá tiền cũng hạ như suối hẹp
phải dồn bớt chài lại, không phải ở rể như lần thứ nhất.
[36] Người
chồng thứ ba chính là người tình cũ, người thứ hai đã trả đủ giá người
nên có quyền đem ra chợ bán, không ai thèm mua chỉ đổi được một cuộn lá
dong, trớ trêu lại gặp người tình cũ,là chàng trai đóng vai người tình
tiễn dặn ở trên
================
Giới thiệu về dịch giả Nguyễn Khôi:
Sinh năm 1938
Quê quán: phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Nhà riêng: 259/39 phố Vọng - Hà Nội
Quê quán: phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
Nhà riêng: 259/39 phố Vọng - Hà Nội
- Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội
- UV BCH Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội
- UV BCH Hội VHNT các Dân tộc Thiểu số VN (Khóa 2)
- Chuyên viên Cao cấp, nguyên Phó Vụ trưởng Văn phòng Quốc hội Việt Nam
- UV BCH Hội Văn nghệ Dân gian Hà Nội
- UV BCH Hội VHNT các Dân tộc Thiểu số VN (Khóa 2)
- Chuyên viên Cao cấp, nguyên Phó Vụ trưởng Văn phòng Quốc hội Việt Nam
Các tác phẩm đã xuất bản:
- Trai Đình Bảng (thơ) nxb Văn Học 1995,vhtt 2000
- Gửi Mường bản xa xăm (thơ) nxb vhdt 1998 - Giải thưởng Hội VHTH các DTTS VN 1998.
- Trưa rừng ấy (thơ tứ tuyệt 100 bài) nxb vhdt 2005
- Bắc Ninh thi thoại (biên khảo) đã tái bản lần thư 3.
- Các dân tộc ở Việt Nam-cách dùng họ và đặt tên (biên khảo nxb Vhdt 2006.
- Cổ Pháp cố sự- 4 tập, 920 trang nxb vhdt, viết về cội nguồn nhà Lý.
- Có thơ in ở: tuyển tập thơ Việt Nam 1945-2000 (nxb lao động); tuyển tập thơ
Việt Nam 1975-2000, nxb Hội Nhà Văn; tuyển tập Văn học Miền Núi-nxb giáo dục1998; tuyển tập thơ Việt Nam thế kỷ 20 (nxb giáo dục-2005), tuyển tập thơ Việt Nam 10 năm đầu thế kỷ 21(nxb Hội Nhà Văn 2010)...
- Gửi Mường bản xa xăm (thơ) nxb vhdt 1998 - Giải thưởng Hội VHTH các DTTS VN 1998.
- Trưa rừng ấy (thơ tứ tuyệt 100 bài) nxb vhdt 2005
- Bắc Ninh thi thoại (biên khảo) đã tái bản lần thư 3.
- Các dân tộc ở Việt Nam-cách dùng họ và đặt tên (biên khảo nxb Vhdt 2006.
- Cổ Pháp cố sự- 4 tập, 920 trang nxb vhdt, viết về cội nguồn nhà Lý.
- Có thơ in ở: tuyển tập thơ Việt Nam 1945-2000 (nxb lao động); tuyển tập thơ
Việt Nam 1975-2000, nxb Hội Nhà Văn; tuyển tập Văn học Miền Núi-nxb giáo dục1998; tuyển tập thơ Việt Nam thế kỷ 20 (nxb giáo dục-2005), tuyển tập thơ Việt Nam 10 năm đầu thế kỷ 21(nxb Hội Nhà Văn 2010)...
Dịch thuật:
- Sống Chu Son Sao (Tiễn Dặn Người Yêu) - truyện thơ dân tộc Thái
- Tiếng hát làm Dâu (dân ca H’mông) vv...
- Tiếng hát làm Dâu (dân ca H’mông) vv...
Giải thưởng :
- Giải thưởng viết về 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, bài thơ " Về Hà Nội".
- Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Thủ đô 2008 cho Bộ sử Làng Cổ Pháp cố sự.
- Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Thủ đô 2008 cho Bộ sử Làng Cổ Pháp cố sự.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)