Thứ Hai, 27 tháng 5, 2013

MỘT SỐ CÔNG THỨC GIẢI NHANH BÀI TẬI TRẮC NGHIỆM HÓA HỌC

Việc nắm vững các công thức này sẽ giúp giải nhanh các bài toán hóa học. Nếu giải theo cách thông thường thì mất rất nhiều thời gian.Vậy thay mặt cho tập thể các gia sư hóa tại nhà tôi xin tổng hợp và giới thiệu đến các em các công thức này. Các em hãy học thuộc nhé.


1. Công thức tính số đồng phân ancol đơn chức no, mạch hở : Cn H2n+2O2

Số đồng phân Cn H2n+2O2 = 2n- 2 ( 1 < n < 6 )

Ví dụ : Số đồng phân của ancol có công thức phân tử là :

a. C3H8O = 23-2 = 2

b. C4H10O = 24-2 = 4

c. C5H12O = 25-2 = 8

2. Công thức tính số đồng phân anđehit đơn chức no, mạch hở : Cn H2nO

Số đồng phân Cn H2nO = 2n- 3 ( 2 < n < 7 )

Ví dụ : Số đồng phân của anđehit đơn chức no, mạch hở có công thức phân tử là :

a. C4H8O = 24-3 = 2

b. C5H10O = 25-3 = 4

c. C6H12O = 26-3 = 8

3. Công thức tính số đồng phân axit cacboxylic đơn chức no, mạch hở : Cn H2nO2

Số đồng phân Cn H2nO2 = 2n- 3 ( 2 < n < 7 )

Ví dụ : Số đồng phân của axit cacboxylic đơn chức no, mạch hở có công thức phân tử là :

a. C4H8O2 = 24-3 = 2

b. C5H10O2 = 25-3 = 4

c. C6H12O2 = 26-3 = 8

4. Công thức tính số đồng phân este đơn chức no, mạch hở : Cn H2nO2

Số đồng phân Cn H2nO2 = 2n- 2 ( 1 < n < 5 )

Ví dụ : Số đồng phân của este đơn chức no, mạch hở có công thức phân tử là :

a. C2H4O2 = 22-2 = 1

b. C3H6O2 = 23-2 = 2

c. C4H8O2 = 24-2 = 4

5. Công thức tính số đồng phân ete đơn chức no, mạch hở : Cn H2n+2O

Số đồng phân Cn H2n+2O = ( 2 < n < 5 )

Ví dụ : Số đồng phân của ete đơn chức no, mạch hở có công thức phân tử là :

a. C3H8O = = 1

b. C4H10O = = 3

c. C5H12O = = 6

6. Công thức tính số đồng phân xeton đơn chức no, mạch hở : Cn H2nO

Số đồng phân Cn H2nO = ( 3 < n < 7 )

Ví dụ : Số đồng phân của xeton đơn chức no, mạch hở có công thức phân tử là :

a. C4H8O = = 1

b. C5H10O = = 3

c. C6H12O = = 6

7. Công thức tính số đồng phân amin đơn chức no, mạch hở : Cn H2n+3N

Số đồng phân Cn H2n+3N = 2n-1 ( n < 5 )

Ví dụ : Số đồng phân của anin đơn chức no, mạch hở có công thức phân tử là :

a. C2H7N = 22-1 = 1

b. C3H9N = 23-1 = 3

c. C4H12N = 24-1 = 6

8. Công thức tính số trieste ( triglixerit ) tạo bởi glixerol và hỗn hợp n axít béo :

Số tri este =

Ví dụ : Đun nóng hỗn hợp gồm glixerol với 2 axit béo là axit panmitic và axit stearic ( xúc tác H2SO4 đặc) thì thu được bao nhiêu trieste ?

Số trieste = = 6

9. Công thức tính số đồng phân ete tạo bởi hỗn hợp n ancol đơn chức :

Số ete =

Ví dụ : Đun nóng hỗn hợp gồm 2 ancol đơn chức no với H2SO4 đặc ở 1400c được hỗn hợp bao nhiêu ete ?

Số ete = = 3

10. Công thức tính số C của ancol no, ete no hoặc của ankan dựa vào phản ứng cháy :

Số C của ancol no hoặc ankan = ( Với nH O > n CO )

Ví dụ 1 : Đốt cháy một lượng ancol no đơn chức A được 15,4 gam CO2 và 9,45 gam H2O . Tìm công thức phân tử của A ?

Số C của ancol no = = = 2

Vậy A có công thức phân tử là C2H6O

Ví dụ 2: Đốt cháy hoàn toàn một lượng hiđrocacbon A thu được 26,4 gam CO2 và 16,2 gam H2O . Tìm công thức phân tử của A ?

( Với nH O = 0,7 mol > n CO = 0,6 mol ) => A là ankan

Số C của ankan = = = 6

Vậy A có công thức phân tử là C6H14

11. Công thức tính khối lượng ancol đơn chức no hoặc hỗn hợp ankan đơn chức notheo khối lượng CO2 và khối lượng H2O :

mancol = mH O -

Ví dụ : Khi đốt cháy hoàn toàn m gam hỗn hợp hai ancol đơn chức no, mạch hở thu được 2,24 lít CO2 ( đktc ) và 7,2 gam H2O. Tính khối lượng của ancol ?

mancol = mH O - = 7,2- = 6,8

12. Công thức tính số đi, tri, tetra…..n peptit tối đa tạo bởi hỗn hợp gồm x amino axit khác nhau :

Số n peptitmax = xn

Ví dụ : Có tối đa bao nhiêu đipeptit, tripeptit thu được từ hỗn hợp gồm 2 amino axit là glyxin và alanin ?

Số đipeptit = 22 = 4

Số tripeptit = 23 = 8

13. Công thức tính khối lượng amino axit A( chứa n nhóm -NH2 và m nhóm –COOH ) khi cho amino axit này vào dung dịch chứa a mol HCl, sau đó cho dung dịch sau phản ứng tác dụng vừa đủ với b mol NaOH.

mA = MA

Ví dụ : Cho m gam glyxin vào dung dịch chứa 0,3 mol HCl . Dung dịch sau phản ứng tác dụng vừa đủ với 0,5 mol NaOH. Tìm m ? ( Mglyxin = 75 )

m = 75 = 15 gam

14. Công thức tính khối lượng amino axit A( chứa n nhóm -NH2 và m nhóm –COOH ) khi cho amino axit này vào dung dịch chứa a mol NaOH, sau đó cho dung dịch sau phản ứng tác dụng vừa đủ với b mol HCl.

mA = MA

Ví dụ : Cho m gam alanin vào dung dịch chứa 0,375 mol NaOH . Dung dịch sau phản ứng tác dụng vừa đủ với 0,575 mol HCl . Tìm m ? ( Malanin = 89 )

mA = 89 = 17,8 gam

15. Công thức xác định công thức phân tử của một anken dựa vào phân tử khối của hỗn hợp anken và H2 trước và sau khi dẫn qua bột Ni nung nóng.

Anken ( M1) + H2 A (M2) ( phản ứng hiđro hóa anken hoàn toàn )

Số n của anken (CnH2n ) =

Ví dụ : Cho X là hỗn hợp gồm olefin M và H2 , có tỉ khối hơi so với H2 là 5 . Dẫn X qua bột Ni nung nóng để phản ứng xãy ra hoàn toàn được hỗn hợp hơi Y có tỉ khối so với H2 là 6,25 .

Xác định công thức phân tử của M.

M1= 10 và M2 = 12,5

Ta có : n = = 3

M có công thức phân tử là C3H6

16. Công thức xác định công thức phân tử của một ankin dựa vào phân tử khối của hỗn hợp ankin và H2 trước và sau khi dẫn qua bột Ni nung nóng.

Ankin ( M1) + H2 A (M2) ( phản ứng hiđro hóa ankin hoàn toàn )

Số n của ankin (CnH2n-2 ) =

17.Công thức tính hiệu suất phản ứng hiđro hóa anken.

H% = 2- 2

18.Công thức tính hiệu suất phản ứng hiđro hóa anđehit no đơn chức.

H% = 2- 2

19.Công thức tính % ankan A tham gia phản ứng tách.

%A = - 1

20.Công thức xác định phân tử ankan A dựa vào phản ứng tách.

MA =

21.Công thức tính khối lượng muối clorua khi cho kim loại tác dụng với dung dịch HCl giải phóng khí H2

mMuối clorua = mKL + 71. nH

Ví dụ : Cho 10 gam hỗn hợp kim loại gồm Mg, Al, Zn tác dụng với dung dịch HCl thu được 22,4 lít khí H2 ( đktc). Tính khối lượng muối thu được .

mMuối clorua = mKL + 71 nH = 10 + 71. 1 = 81 gam

22.Công thức tính khối lượng muối sunfat khi cho kim loại tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng giải phóng khí H2

mMuối sunfat = mKL + 96. nH

Ví dụ : Cho 10 gam hỗn hợp kim loại gồm Mg, Al, Zn tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng thu được 2,24 lít khí H2 ( đktc). Tính khối lượng muối thu được .

mMuối Sunfat = mKL + 96. nH = 10 + 96. 0,1 = 29,6 gam

23.Công thức tính khối lượng muối sunphat khi cho kim loại tác dụng với dung dịch H2SO4 đặc tạo sản phẩm khử SO2 , S, H2S và H2O

mMuối sunfát = mKL + .( 2nSO + 6 nS + 8nH S ) = mKL +96.( nSO + 3 nS + 4nH S )

* Lưu ý : Sản phẩm khử nào không có thì bỏ qua

* n H SO = 2nSO + 4 nS + 5nH S

24.Công thức tính khối lượng muối nitrat khi cho kim loại tác dụng với dung dịch HNO3 giải phóng khí : NO2 ,NO,N2O, N2 ,NH4NO3

mMuối Nitrat = mKL + 62( n NO + 3nNO + 8nN O +10n N +8n NH NO )

* Lưu ý : Sản phẩm khử nào không có thì bỏ qua

* n HNO = 2nNO + 4 nNO + 10nN O +12nN + 10nNH NO

25.Công thức tính khối lượng muối clorua khi cho muối cacbonat tác dụng với dung dịch HCl giải phóng khí CO2 và H2O

mMuối clorua = mMuối cacbonat + 11. n CO

26.Công thức tính khối lượng muối sunfat khi cho muối cacbonat tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng giải phóng khí CO2 và H2O

mMuối sunfat = mMuối cacbonat + 36. n CO

27.Công thức tính khối lượng muối clorua khi cho muối sunfit tác dụng với dung dịch HCl giải phóng khí SO2 và H2O

mMuối clorua = mMuối sunfit – 9. n SO

28.Công thức tính khối lượng muối sunfat khi cho muối sunfit tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng giải phóng khí CO2 và H2O

mMuối sunfat = mMuối cacbonat + 16. n SO

29.Công thức tính số mol oxi khi cho oxit tác dụng với dung dịch axit tạo muối và H2O

nO (Oxit) = nO ( H O) = nH ( Axit)

30.Công thức tính khối lượng muối sunfat khi cho oxit kim loại tác dụng với dung dịch H2SO4 loãng tạo muối sunfat và H2O

Oxit + dd H2SO4 loãng à Muối sunfat + H2O

mMuối sunfat = mOxit + 80 n H SO

31.Công thức tính khối lượng muối clorua khi cho oxit kim loại tác dụng với dung dịch HCl tạo muối clorua và H2O

Oxit + dd HCl à Muối clorua + H2O

mMuối clorua = mOxit + 55 n H O = mOxit + 27,5 n HCl

32.Công thức tính khối lượng kim loại khi cho oxit kim loại tác dụng với các chất khử như : CO, H2 , Al, C

mKL = moxit – mO ( Oxit)

nO (Oxit) = nCO = n H = n CO = n H O

33.Công thức tính số mol kim loại khi cho kim loại tác dụng với H2O, axit, dung dịch bazơ kiềm, dung dịch NH3 giải phóng hiđro.

nK L= nH với a là hóa trị của kim loại

Ví dụ: Cho kim loại kiềm tác dụng với H2O:

2M + 2H2O 2MOH + H2

nK L= 2nH = nOH

34.Công thức tính lượng kết tủa xuất hiện khi hấp thụ hết một lượng CO2 vào dung dịch Ca(OH)2 hoặc Ba(OH)2 .

nkết tủa = nOH - nCO ( vớinkết tủa nCO hoặc đề cho dd bazơ phản ứng hết )

Ví dụ : Hấp thụ hết 11,2 lít CO2 (đktc ) vào 350 ml dung dịch Ba(OH)2 1M. Tính kết tủa thu được.

Ta có : n CO = 0,5 mol

n Ba(OH) = 0,35 mol => nOH = 0,7 mol

nkết tủa = nOH - nCO = 0,7 – 0,5 = 0,2 mol

mkết tủa = 0,2 . 197 = 39,4 ( g )

35.Công thức tính lượng kết tủa xuất hiện khi hấp thụ hết một lượng CO2 vào dung dịch chứa hỗn hợp gồm NaOH, Ca(OH)2 hoặc Ba(OH)2 .

Tính nCO = nOH - nCO rồi so sánh nCa hoặc nBa để xem chất nào phản ứng hết để suy ra n kết tủa ( điều kiện nCO nCO )

Ví dụ 1 : Hấp thụ hết 6,72 lít CO2 ( đktc) vào 300 ml dung dịch hỗn hợp gồm NaOH 0,1 M và Ba(OH)2 0,6 M. Tính khối lượng kết tủa thu được .

nCO = 0,3 mol

nNaOH = 0,03 mol

n Ba(OH)2= 0,18 mol

=> nOH = 0,39 mol

nCO = nOH - nCO = 0,39- 0,3 = 0,09 mol

Mà nBa = 0,18 mol nên nkết tủa = nCO = 0,09 mol

mkết tủa = 0,09 . 197 = 17,73 gam

Ví dụ 2 : Hấp thụ hết 0,448 lít CO2 ( đktc) vào 100 ml dung dịch hỗn hợp gồm NaOH 0,06 M và Ba(OH)2 0,12 M thu được m gam kết tủa . Tính m ? ( TSĐH 2009 khối A )

A. 3,94 B. 1,182 C. 2,364 D. 1,97

nCO = 0,02 mol

nNaOH = 0,006 mol

n Ba(OH)2= 0,012 mol

=> nOH = 0,03 mol

nCO = nOH - nCO = 0,03 – 0,02 = 0,01 mol

Mà nBa = 0,012 mol nên nkết tủa = nCO = 0,01 mol

mkết tủa = 0,01 . 197 = 1,97 gam



36.Công thức tính thể tích CO2 cần hấp thụ hết vào một dung dịch Ca(OH)2 hoặc Ba(OH)2 để thu được một lượng kết tủa theo yêu cầu .

Ta có hai kết quả :

– n CO = nkết tủa

– n CO = nOH - nkết tủa

Ví dụ : Hấp thụ hết V lít CO2 ( đktc) vào 300 ml dung dịch và Ba(OH)2 1 M thu được 19,7 gam kết tủa . Tính V ?

Giải

- n CO = nkết tủa = 0,1 mol => V CO = 2,24 lít

– n CO = nOH - nkết tủa = 0,6 – 0,1 = 0,5 => V CO = 11,2 lít

37.Công thức tính thể tích dung dịch NaOH cần cho vào dung dịch Al3+để xuất hiện một lượng kết tủa theo yêu cầu .

Ta có hai kết quả :

– nOH = 3.nkết tủa

– n OH = 4. nAl - nkết tủa

Ví dụ : Cần cho bao nhiêu lít dung dịch NaOH 1M vào dung dịch chứa 0,5 mol AlCl3 để được 31,2 gam kết tủa .

Giải

Ta có hai kết quả :

n OH = 3.nkết tủa = 3. 0,4 = 1,2 mol => V = 1,2 lít

n OH = 4. nAl - nkết tủa = 4. 0,5 – 0,4 = 1,6 mol => V = 1,6 lít

38.Công thức tính thể tích dung dịch NaOH cần cho vào hỗn hợp dung dịch Al3+và H+ để xuất hiện một lượng kết tủa theo yêu cầu .

Ta có hai kết quả :

– nOH ( min ) = 3.nkết tủa + nH

– n OH ( max ) = 4. nAl - nkết tủa+ nH

Ví dụ : Cần cho bao nhiêu lít dung dịch NaOH 1M lớn nhất vào dung dịch chứa đồng thời 0,6 mol AlCl3 và 0,2 mol HCl để được 39 gam kết tủa .

Giải

n OH ( max ) = 4. nAl - nkết tủa+ nH = 4. 0,6 – 0,5 + 0,2 =2,1 mol => V = 2,1 lít



39.Công thức tính thể tích dung dịch HCl cần cho vào dung dịch NaAlO2 hoặc Na để xuất hiện một lượng kết tủa theo yêu cầu .

Ta có hai kết quả :

– nH = nkết tủa

– nH = 4. nAlO – 3. nkết tủa

Ví dụ : Cần cho bao nhiêu lít dung dịch HCl 1M vào dung dịch chứa 0,7 mol NaAlO2 hoặc Na để thu được 39 gam kết tủa .

Giải

Ta có hai kết quả :

nH = nkết tủa = 0,5 mol => V = 0,5 lít

nH = 4. nAlO – 3. nkết tủa = 4.0,7 – 3.0,5 = 1,3 mol => V = 1,3 lít

40.Công thức tính thể tích dung dịch HCl cần cho vào hỗn hợp dung dịch NaOH và NaAlO2 hoặc Na để xuất hiện một lượng kết tủa theo yêu cầu .

Ta có hai kết quả :

nH = nkết tủa + nOH

nH = 4. nAlO – 3. nkết tủa + nOH

Ví dụ : Cần cho bao nhiêu lít dung dịch HCl 1M cực đại vào dung dịch chứa đồng thời 0,1 mol NaOH và 0,3 mol NaAlO2 hoặc Na để thu được 15,6 gam kết tủa .

Giải

Ta có hai kết quả :

nH (max) = 4. nAlO – 3. nkết tủa + nOH = 4.0,3 – 3.0,2 + 01 = 0,7 mol => V = 0,7 lít

41.Công thức tính thể tích dung dịch NaOH cần cho vào hỗn hợp dung dịch Zn2+để xuất hiện một lượng kết tủa theo yêu cầu .

Ta có hai kết quả :

nOH ( min ) = 2.nkết tủa

n OH ( max ) = 4. nZn - 2.nkết tủa

Ví dụ : Tính thể tích dung dịch NaOH 1M cần cho vào 200 ml dung dịch ZnCl2 2M để được 29,7 gam kết tủa .

Giải

Ta có nZn = 0,4 mol

nkết tủa= 0,3 mol

Áp dụng CT 41 .

n OH ( min ) = 2.nkết tủa = 2.0,3= 0,6 =>V ddNaOH = 0,6 lít

n OH ( max ) = 4. nZn - 2.nkết tủa = 4.0,4 – 2.0,3 = 1 mol =>V ddNaOH = 1lít

42.Công thức tính khối lượng muối thu được khi cho hỗn hợp sắt và các oxít sắt tác dụng với HNO3 loãng dư giải phóng khí NO.

mMuối = ( mhỗn hợp + 24 nNO )

Ví dụ : Hòa tan hết 11,36 gam chất rắn X gồm Fe, FeO, Fe2O3, Fe3O4 trong dung dịch HNO3 loãng dư thu được m gam muối và 1,344 lít khí NO ( đktc ) là sản phẩm khử duy nhất . Tìm m ?.

Giải

mMuối = ( mhỗn hợp + 24 nNO ) = ( 11,36 + 24 .0,06 ) = 38,72 gam

43.Công thức tính khối lượng muối thu được khi hòa tan hết hỗn hợp sắt và các oxít sắt bằng HNO3 đặc nóng, dư giải phóng khí NO2 .

mMuối = ( mhỗn hợp + 8 nNO )

Ví dụ : Hòa tan hết 6 gam chất rắn X gồm Fe, FeO, Fe2O3, Fe3O4 trong HNO3 đặc nóng, dư thu được 3,36 lít khí NO2 (đktc ). Cô cạn dung dịch sau phản ứng thu được bao nhiêu gam muối khan.

mMuối = ( mhỗn hợp + 8 nNO ) = ( 6 + 8 .0,15 ) = 21,78 gam

44.Công thức tính khối lượng muối thu được khi hòa tan hết hỗn hợp sắt và các oxít sắt bằng HNO3 dư giải phóng khí NO và NO2 .

mMuối = ( mhỗn hợp + 24. nNO + 8. nNO )

Ví dụ : Hòa tan hết 7 gam chất rắn X gồm Fe, FeO, Fe2O3, Fe3O4 trong HNO3 dư thu được 1,792 lít (đktc ) khí X gồm NO và NO2 và m gam muối . Biết dX/H = 19. Tính m ?

Ta có : nNO = nNO = 0,04 mol

mMuối = ( mhỗn hợp + 24 nNO + 8 nNO ) = ( 7+ 24.0,04 + 8.0,04 )= 25,047 gam

45.Công thức tính khối lượng muối thu được khi hòa tan hết hỗn hợp Fe, FeO, Fe2O3, Fe3O4 bằng H2SO4 đặc, nóng, dư giải phóng khí SO2 .

mMuối = ( mhỗn hợp + 16.nSO )

Ví dụ : Hòa tan hết 30 gam chất rắn X gồm Fe, FeO, Fe2O3, Fe3O4 bằng H2SO4 đặc nóng, dư thu được 11,2 lít khí SO2 (đktc ). Cô cạn dung dịch sau phản ứng thu được bao nhiêu gam muối khan.

Giải

mMuối = ( mhỗn hợp + 16.nSO ) = ( 30 + 16.0,5 ) = 95 gam

46.Công thức tính khối lượng sắt đã dùng ban đầu, biết oxi hóa lượng sắt này bằng oxi được hỗn hợp rắn X . Hòa tan hết X với HNO3 loãng dư giải phóng khí NO.

mFe = ( mhỗn hợp + 24 nNO )

Ví dụ : Đốt m gam sắt trong oxi thu được 3 gam chất rắn X . Hòa tan hết X với HNO3 loãng dư giải phóng 0,56 lít khí NO ( đktc) . Tìm m ?

Giải

mFe = ( mhỗn hợp + 24 nNO ) = ( 3 + 0,025 ) = 2,52 gam

47.Công thức tính khối lượng sắt đã dùng ban đầu, biết oxi hóa lượng sắt này bằng oxi được hỗn hợp rắn X . Hòa tan hết X với HNO3 đặc , nóng ,dư giải phóng khí NO2.

mFe = ( mhỗn hợp + 8 nNO )

Ví dụ : Đốt m gam sắt trong oxi thu được 10 gam hỗn hợp chất rắn X . Hòa tan hết X với HNO3 đặc nóng, dư giải phóng 10,08 lít khí NO2 ( đktc) . Tìm m ?

Giải

mFe = ( mhỗn hợp + 24 nNO ) = ( 10 + 8. 0,45 ) = 9,52 gam

48.Công thức tính pH của dung dịch axit yếu HA.

pH = – (logKa + logCa ) hoặc pH = – log ( Ca )

với : là độ điện li

Ka : hằng số phân li của axit

Ca : nồng độ mol/l của axit ( Ca 0,01 M )

Ví dụ 1: Tính pH của dung dịch CH3COOH 0,1 M ở 250C . Biết KCH COOH = 1,8. 10-5

Giải

pH = – (logKa + logCa ) = – (log1,8. 10-5 + log0,1 ) = 2,87

Ví dụ 2: Tính pH của dung dịch HCOOH 0,46 % ( D = 1 g/ml ). Cho độ điện li của HCOOH trong dung dịch là = 2 %

Giải

Ta có : CM = = = 0,1 M

pH = – log ( Ca ) = – log ( .0,1 ) = 2,7

49.Công thức tính pH của dung dịch bazơ yếu BOH.

pH = 14 + (logKb + logCb )

với Kb : hằng số phân li của bazơ

Ca : nồng độ mol/l của bazơ

Ví dụ : Tính pH của dung dịch NH3 0,1 M . Cho KNH = 1,75. 10-5

pH = 14 + (logKb + logCb ) = 14 + (log1,75. 10-5 + log0,1 ) = 11,13

50. Công thức tính pH của dung dịch axit yếu HA và muối NaA

pH = – (logKa + log )

Ví dụ : Tính pH của dung dịch CH3COOH 0,1 M và CH3COONa 0,1 M ở 250C.

Biết KCH COOH = 1,75. 10-5 , bỏ qua sự điện li của H2O.

pH = – (logKa + log ) = – (log1,75. 10-5 + log ) = 4,74

51. Công thức tính hiệu suất phản úng tổng hợp NH3

H% = 2 – 2

với MX : hỗn hợp gồm N2 và H2 ban đầu ( tỉ lệ 1:3 )

MY : hỗn hợp sau phản ứng

Ví dụ : Tiến hành tổng hợp NH3 từ hỗn hợp X gồm N2 và H2 có tỉ khối hơi so với H2 là 4,25 thu được hỗn hợp Y có tỉ khối hơi so với H2 là 6,8. Tính hiệu suất tổng hợp NH3 .

Ta có : nN : nH = 1:3

H% = 2 – 2 = 2 – 2 = 75 %

Chủ Nhật, 26 tháng 5, 2013

Kinh Nghiệm Luyện Thi Đại Học Khối A

Làm thế nào để ôn thi cho hiệu quả ? Chúng ta thường thấy các thủ khoa trên tivi hoặc các thầy cô giáo vẫn hay nó với chúng ta rằng, để đạt được kết quả cao trong kỳ thi đại học chỉ cần làm, nắm chắc kiến thức sách giáo khoa là đủ rồi hoặc cứ cố gắng làm nhiều đề là quen, làm thật nhiều càng tốt….. Nếu như vậy thì thật ra rất chung chung và không phải với mỗi môn học nó đều đúng. Có những môn học nếu chỉ học nguyên sách giáo khoa thì rất khó có thể thi đại học với kết quả cao được, hoặc việc làm càng nhiều đề càng tốt không phải đã là hay, trừ khi bạn rất trâu bò, cày mỗi ngày 4-5 tiếng.

Như vậy ở đây thì học như thế nào ??? Đầu tiên mình xin nêu ra một số điểm chung mà trong quá trình ôn thi các bạn nên chú ý:
  1. Thứ nhất : Không nên đi học thêm quá nhiều. Tất nhiên là học sinh cuối cấp việc học thêm đóng vai trò giúp các bạn cũng cố, nắm bắt thêm kiến thức. Tuy nhiên nếu bạn học quá nhiều thì lại không tốt, bởi vì các bạn sẽ không có thời gian tiêu hóa những kiến thức mà mình đã học, học tới đâu thì quên tới đó. Chính vì vậy khi học thêm bạn nên nhớ một điều ra bạn cần phải có những thời gian rỗi để tiêu hóa, hiểu được những kiến thức mà mình đã học.
  2. Thứ hai : Việc giải càng nhiều đề càng tốt không quan trọng bằng việc bạn nên xem và làm đi làm lại những đề cũ. Thật vậy, thời gian này rất căng thẳng và mình đảm bảo rằng các bạn học sẽ rất nhanh quên, việc làm thêm các đề mới chẳng có ý nghĩa gì cả khi cứ làm thì lại quên. Thay vào đó bạn nên làm đi làm lại, xem đi xem lại những cái đề cũ mình đã làm, phân tích đề xem mình hay sai ở đâu, cứ vài ngày lại bỏ đề đó ra làm thử lại xem có nhớ hết không. Đó mới là quan trọng. Kiến thức thi đại học thực chất không quá nhiều, nhưng vấn đề là ở chỗ bạn học sẽ không thể nhớ hết.
  3. Thứ ba : Trên mạng có rất nhiều đề tham khảo, nhưng đề bạn nên tham khảo chính là đề của bộ giáo dục và đào tạo, những đề thi những năm trước. Những đề đó mới có những cấu trúc chuẩn được. Chứ những đề thi thử, kể cả của những trường danh tiếng nhiều khi có nhiều cái quá khó, có cái lại quá dễ, có nhiều câu không phù hợp.
  4. Thứ tư : Nhớ mẹo làm trắc nghiệm. Đề thi trắc nghiệm của bộ giáo dục và đào tạo ra luôn luôn có đáp án là : 25% đáp án A, 25% đáp án B, 25% đáp án C, 25% đáp án D. Nghĩa là môn Lý và Hóa có 60 câu ( Nhưng bạn chỉ có thể được đánh 50 câu, vì 10 câu là câu lựa chọn ) sẽ có 15 câu đáp án A, 15 câu đáp án B, 15 câu đáp án C, 15 câu đáp án D. Cái này mã đề nào cũng thế nên bạn có thể căn cứ vào đó để đánh bừa và ước lượng đáp án. Ví dụ lúc cuối muốn đánh bừa thì bạn thấy số đáp án nào ít nhất thì đánh bừa hết đáp án đó. Nếu bạn nào thi tiếng anh thì rất dễ, vì tiếng anh có 80 câu và bạn được khoanh hết cả 80 câu đó, và sẽ có 20 câu đáp án A, 20 câu đáp án B, 20 câu đáp án C, 20 câu đáp án D. Nên nhớ là quy luật này luôn đúng đối với các đề được bộ giáo dục ra nên các bạn có thể hoàn toàn yên tâm.
Sau đây mình xin đi vào từng môn cụ thể:
Toán:
Tài liệu : về bộ môn này thì ý kiến cho rằng chỉ cần nắm chắc kiến thức trong sách giáo khoa, sách bài tập thôi là hoàn toàn đúng. Thực tế bài tập trong sách giáo khoa, sách bài tập có rất nhiều bài khó, nhưng hay bị người ta coi thường, hoặc đã xem rồi những quên mất. Vấn đề của người học lại được lặp lại là hay quên. Chính vì vậy đối với bộ môn toán, nếu chỉ cần được 8 điểm thì bạn chỉ cần làm đi làm lại những chuyên đề hay thi ( đồ thị hàm số, giải phương trình, tích phân,… ) trong sách giáo khoa và sách bài tập, làm đi làm lại cho tới khi nào không quên thì thôi, như thế là ok. Bạn không cần quá nhiều sách tham khảo ( lưu ý là điều này không đúng đối với 2 bộ môn Lý và Hóa ).
Luyện đề : Môn Toán này có đặc điểm khác với những môn trắc nghiệm nên việc các bạn luyện nhiều đề cũng sẽ không có nhiều tác dụng bằng việc các bạn nên phân tích đề thi của bộ giáo dục vào chia thành từng chuyên đề một để ôn. Việc học theo từng chuyên đề sẽ có tác dụng rất quan trọng. Việc tập giải đề đơn giản chỉ là để làm quen với cấu trúc đề thôi. Về cấu trúc đề thi môn toán hay ra vào phần nào thì các bạn sẽ được tham khảo ở bài viết sau.
Lý:
Bạn nên nhớ một điều rằng môn Vật Lý thi trắc nghiệm với thi tự luận sẽ rất khác nhau. Thi trắc nghiệm sẽ không thể có những bài tập khó, những bài biến đổi lằng nhằng mà chỉ có những bài tập đơn thuần, không quá khó, công thức biến đổi cũng không quá phức tạp. Nhiều người cứ bảo ôn trắc nghiệm trên cơ sở nắm chắc tự luận, cái đó là không đúng trong môn Lý.
Tài liệu : Bạn nên ôn luôn dựa theo đề thi nhưng chủ yếu là đề thi các năm. Sưu tập đề và cả đáp án giải chi tiết nữa, có nhiều cuốn sách có đáp án giải chi tiết của những đề thi, đặc biệt là giải chi tiết những đề thi của những năm trước. Bạn học xong chương nào thì lấy đề ra tìm những câu chương đó giải luôn, không làm được thì xem đáp án rồi suy ra dần. Nên nhớ là cứ ôn theo đề và làm đi làm lại. Làm một đề nào đó, một thời gian sau lại lấy ra làm lại.
Nên nhớ rằng bạn không nên ôn bài tập tự luận. Chỉ nên ôn theo các đề như mình nói ở trên, nhưng nhớ phải có đáp án giải chi tiết đấy nhé. Đặc điểm của môn Lý là phần lý thuyết nhiều khi hỏi hơi khó chịu, nghĩa là ngòai việc bắt người học phải hiểu ra, nhiều câu lý thuyết nó còn bắt bẻ câu chữ nữa. Nên khi học nếu có thời gian thì mình học thuộc sách giáo khoa cũng được. Còn phần bài tập thì rải rác các chương nhưng chủ yếu là tập trung vào phần giao động và phần hạt nhân là nhiều nhất.
Hóa:
Với môn Hóa thì lại khác, thi tự luận và thi trắc nghiệm sẽ không khác nhau là mấy. Có nghĩa là thời gian đầu bạn nên ôn tự luận trước để hiểu rõ, nắm chắc kiến thức.
Bạn nên mua một số quyển bài tập tự luận, hoặc những đề thi tự luận nào đó để luyện tập làm. Không làm được thì xem giải. Đặc điểm của bộ môn hóa là người học chỉ cần chăm là học được không cần IQ phải cao. Bởi vì môn hóa bài tập lặp đi lặp lại khá nhiều. Bạn chịu khó kiên trì luyện bài tập tự luận một thời gian chắc chắn bạn sẽ thấy kiến thức rất chắc chắn. Chỉ cần làm theo công thức làm, không làm được thì xem giải rồi làm tiếp. Cứ kiên trì như vậy là ok.
Sau quãng thời gian luyện tự luận sẽ là quá trình giải đề, tất nhiên là giải càng nhiều càng tốt, tuy nhiên vẫn nên nhớ hai điều là nên bám sát vào đề thi đại học những năm trước hơn là các đề thi thử và nên làm đi làm lại đề thay vì làm quá nhiều.
Trên đây là những ý kiến, kinh nghiệm được tổng hợp từ trong việc ôn thi đại học khối A. Chúng tôi rất mong bài viết này sẽ đóng góp một phần nào đó trong việc giúp các sỹ tử ôn thi thành công.
gia sư tại nhà

Thứ Tư, 22 tháng 5, 2013

Vay hàng trăm triệu đồng cho con đi học


Đầu tư cho cả 2 con học ở một trường đại học lớn, ông Tạ Đức Toan phải vay hàng trăm triệu đồng nhưng chưa bao giờ ông thấy lăn tăn về "chiến lược" của mình. Hiện, các con ông đều giành được học bổng sang Nhật.


Hồi thi đại học, Tạ Đức Tùng đỗ cả 2 Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học FPT. Muốn con trở thành kỹ sư cơ khí, bố Tùng còn chủ động đem hồ sơ của con trai nộp vào trường Bách khoa. Nhưng mong muốn của Tùng là trở thành dân IT nên ông Toan đành chịu thua. Kết quả học tập của Tùng ngay năm đầu tiên ở Đại học FPT khiến ông ngày càng tin tưởng con.

Một mình Tùng học ở FPT đã tốn gần 50 triệu đồng mỗi năm nhưng đến khi cô con gái muốn "theo gót anh", cả gia đình ông Toan đều ủng hộ, dù biết con đường phía trước rất khó khăn. Để lo cho việc học của Tùng và Hòa, số tiền vay nợ của gia đình ông Toan cứ theo đó tăng thêm. Nhưng từ ngày 2 con được học bổng sang Nhật, khoản nợ đó đã được gia đình ông Toan trả quá nửa, một phần nhờ số tiền anh em Tùng kiếm được.
Tag: gia sư tại nhà
Nhìn thành quả bước đầu của Tùng và Hòa, ông cho rằng có phải vay mượn cho con đi học cũng xứng đáng. "Không phải cứ học trường lớn là giỏi nhưng tôi thấy môi trường với các cháu quan trọng lắm. Chọn được trường tốt, lại đúng nguyện vọng của con thì khó khăn mấy tôi cũng đầu tư. Kể cả con tôi không được đi Nhật thì với kỹ năng, tri thức, vốn ngoại ngữ các cháu có được, tôi tin chúng có thể vững vàng sống, làm việc ở bất kỳ công ty nào trong nước. Đó là hành trang quý nhất mà vợ chồng tôi có thể cho các con", ông nói.

Cách đây 2 năm, gia đình bà Nguyễn Thị Hà, chủ một quán cơm nhỏ trên phố Hoàng Hoa Thám cũng phải bán nhà cho con sang Canada du học. Khi đó, Phạm Anh Tú (con trai bà Hà) là học sinh lớp 12 của một trường chuyên ở Hà Nội. Tú đam mê ngành khoa học máy tính nhưng lĩnh vực này ở Việt Nam chưa phát triển nên cậu quyết tâm thi lấy học bổng sang Canada.

Sau nhiều vòng thi, Tú giành được học bổng 50% sang Canada học đúng lĩnh vực yêu thích. Nhưng kinh tế gia đình cậu không dư dật, để Tú được thực hiện ước mơ của mình, bà Hà bàn với chồng bán căn nhà ở phố Hoàng Hoa Thám, mua một ngôi nhà nhỏ trong hẻm để lấy tiền gửi ngân hàng chứng minh tài chính cho Tú lên đường nhập học.

"Ngày đó gia đình cũng đắn đo lắm, cả nhà chỉ trông vào cửa hàng đó để sinh sống, bán đi là phải thuê chỗ mở tiệm cơm. Nhưng cháu có khả năng, lại được học bổng, không tạo điều kiện cho con thì không được. Nghĩ lại hồi đấy mình cũng liều, con xa bố, xa mẹ mà hư là mình mất tất, nhưng cũng may, giờ Tú đã có thể vừa đi học, vừa đi làm, tự lo được cho bản thân ở bên đó", bà Hà khoe.

Trao đổi với VnExpress.net, Phó giáo sư, Tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn, Phó chủ tịch Hội Tâm lý học xã hội Việt Nam cho rằng: việc đầu tư cho con cái học tập không nhất thiết phải tính toán theo kiểu lời - lỗ. Tuy nhiên, các bậc phụ huynh cần đầu tư một cách khôn ngoan, dựa trên khả năng học tập và triển vọng thực sự của con trẻ; sự hứng thú và sự mong mỏi đích thực của con; kỹ năng sống và khả năng thích nghi; khả năng kinh tế của gia đình...

Ở góc độ quản lý tài chính, ông Sơn cho rằng việc vay mượn không hẳn là không tốt nhưng không được phép quá phiêu lưu. Hơn nữa, cha mẹ cần lường trước một đoạn đường dài về việc phát triển kinh tế của cá nhân, gia đình; cần khảo sát thông tin học tập và các chi phí đầu tư theo toàn khóa cũng như tất cả khoản phí phát sinh; cần dự báo được những rủi ro... Theo ông, có như vậy mới làm chủ, đảm bảo được quá trình học tập cho con và khả năng thành công về sau.

"Việc cố sức quá có thể làm cho gia đình khánh kiệt và bản thân con cái cũng chịu đựng những áp lực, việc học tập của con theo đó chưa chắc hiệu quả. Cha mẹ cũng nên khuyến khích và giao nhiệm vụ cho con trẻ sau một thời gian học tập như giành được học bổng, tìm được công việc phù hợp... ", ông Sơn tư vấn.

Đồng tình với những ý kiến đó, giảng viên của một trường đại học ở Hà Nội cho rằng: việc cha mẹ gắng sức đầu tư cho việc học của con là điều không mới. Theo bà, xưa nay, bố mẹ nào cũng cố cho con học đến nơi đến chốn, việc cố đó thường hơn khả năng của bản thân và gia đình một chút. Nhưng khác với ngày trước là chỉ cố cho con đi học, hoàn thành việc học tập thì phụ huynh ngày này có xu hướng đầu tư cho con học trường tốt, đi du học...

Đứng về góc độ tâm lý, bà cho rằng: lo cho con cái, muốn con cái thành đạt là nhu cầu chính đáng của hầu hết người làm cha, làm mẹ. Vì vậy, việc đầu tư cho con ăn học ở những môi trường tốt là điều nên làm. Tuy nhiên, điều đó còn phải căn cứ vào nhu cầu thực sự của con cái và khả năng tài chính của gia đình, tránh chạy theo số đông hay xu hướng.

Tạ Đức Tùng và Tạ Thị Khánh Hòa (con ông Toan) đều là cựu sinh viên trường Đại học FPT. Sau khi tốt nghiệp, Tùng được sang Nhật học thạc sĩ ngành Công nghệ thông tin với mức học bổng hơn 50 triệu đồng mỗi tháng. Còn Khánh Hòa giành được "tấm vé" du học đến đất nước mặt trời mọc khi mới là sinh viên năm thứ 2 chuyên ngành Quản trị kinh doanh.

Gia đình ông Toan làm nghề kinh doanh nhỏ, chuyển về sinh sống ở Hà Nội gần chục năm nay. Kinh tế không khá giả nên để cho con học ở Đại học FPT với mức học phí hơn 200 triệu cho 4 năm học, vợ chồng ông đã phải vất vả sớm hôm. "Thấy con cái đứa nào cũng học tốt, không chỉ giỏi chuyên môn ở trường mà đi đâu chúng cũng tự tin, giao tiếp nhanh nhẹn, tôi mừng lắm, chưa bao giờ thấy mệt. Cháu Tùng hồi vào trường còn kém tiếng Anh, chưa biết tiếng Nhật, thế mà tốt nghiệp còn thi được cả học bổng sang Nhật nữa", ông Toan phấn khởi chia sẻ.
Theo VNEXPRESS

Thứ Hai, 20 tháng 5, 2013

Dạy toán cho học sinh tiểu học

Toán là môn học quan trọng, nó theo các bé suốt chương trình phổ thông, cũng như sau này môn toán có ứng dụng vô cùng lớn trong đời sống. Hãy giúp các bé có được một tư duy toán logic và khoa học ngay từ bây giờ. Chúng tôi, những gia sư tiểu học sẽ rất vinh dự góp phần vào sự hình thành nhân cách cũng như trí tuệ của các em.


Xuất phát từ mong muốn hình thành một tư duy logic toán học cho các em, các gia sư môn toán tại nhà của Văn Phòng Gia Sư Tài Đức Việt, đã tích cực nghiêm cứu tâm lý của học sinh tiểu học đối với môn toán. Nhằm đưa ra phương pháp gia sư môn toán tiểu học hiệu quả nhất đối với các em.

Chương trình dạy toán cho học sinh tiểu học, của các gia sư gồm 5 phương pháp chính: tư duy, diễn đạt bằng ngôn từ, quan sát hình ảnh trực quan, sử dụng giáo cụ và toán viết. Những kỹ thuật giảng dạy này bổ sung cho nhau giúp các em tiếp thu kiến thức toán hiệu quả, phát triển tư duy nhưng không cảm thấy áp lực và nhàm chán.
 Các gia sư tại nhà áp dụng phương pháp Mathnasium, gồm 3 bước lặp đi lặp lại: bước 1 – kiểm tra, bước 2 – dạy và học, bước 3 – đánh giá.

Mặt khác, nhận thức được học sinh ở độ tuổi tiểu học chưa hình thành đầy đủ về trí tuệ, cũng như thể chất, tinh thần. Các em vẫn còn đang tuổi ăn tuổi ngủ. Các gia sư tiểu học, khi dạy toán sẽ khéo léo áp dụng những phương pháp sư phạm phù hợp với tâm sinh lý của lứa tuổi này. Không chỉ nhằm mục đích, hình thành tư duy toán học cho các em mà còn giúp các em hình thành bước đầu nhân sinh quan, thế giới quan của mình.

Trên đây là một số lời giới thiệu về gia sư toán tiểu học của chúng tôi. Để có thể tìm hiểu kỹ hơn về chúng tôi và đội ngũ gia sư. Cũng như đội ngũ gia sư môn toán tiểu học, xin liên hệ 043 990 62 60 để được giải đáp và hỗ trợ.

Xin chân thành cảm ơn!

Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2013

Muối CACBONAT Tác Dụng Với Dung Dịch AXit – Kiềm

Dạng toán hóa muối cacbonat tác dụng với dung dịch axit là một dạng bài tập không phải là khó nhưng nó thường mang lại những rắc rối nhất định cho các em.

Vì vậy, tôi xin thay mặt đội ngũ gia sư tại nhà của văn phòng chia sẻ đến các em cơ sở lý thuyết trong chuyên đề muối cacbonat tác dụng với dung dịch axit – kiềm.

Cơ sở lý thuyết:


Muối cacbonat gồm: HCO3- và CO32-

Đặc điểm:
HCO3- lưỡng tính: tác dụng được với axit, kiềm
CO32- bazơ: tác dụng với axit.

Các tình huống của bài toán:

Tình huống 1: (HCO3- và CO32-) tác dụng với OH- chỉ có HCO3- tác dụng

HCO3- + OH- –> CO32- + H2O

Tình huống 2: CO32- tác dụng với H+

H+ + CO32- –> HCO3- (1)

2H+ + CO32- –> CO2 + H2O (2)

Lập tỷ lệ: n(H+) / n(CO32-) = k
Nếu k < 1: Chỉ xảy ra (1).
Nếu 1 <= k <= 2: Xảy ra cả (1) và (2).
Nếu k >2: Xảy ra (2)

Tình huống 3: Nhỏ (HCO3- và CO32-) từ từ vào H+

HCO3- + H+ –> CO2 + H2O

2H+ + CO32- –> CO2 + H2O

Xét 2 trường hợp:

TH1: HCO3- hết trước

TH2: CO32- hết trước

Tình huống 4: Nhỏ từ từ H+ vào (HCO3- và CO32-) các phản ứng xảy ra theo thứ tự

H+ + CO32- –> HCO3- nếu H+ dư có phản ứng sau

HCO3- + H+ –> CO2 + H2O

Hy vọng bài viết nhỏ này sẽ giúp các em tự tin hơn trong việc xử lý lớp bài toán hóa về muối cacbonat. Chúc các em học tốt, thi tốt.